Like this post

Công Lý : Việc Đúng Nên Làm - 12 Tập

   Justice : What’s the Right things to do 720p

CÔNG LÝ là một trong những khóa học nổi tiếng trong lịch sử Đại học Harvard do Giáo sư Sandel giảng. Cả Đại Giảng Đường Sanders đã chật cứng sinh viên đến để nghe về Công lý, Bình đẳng, Dân chủ và Công dân.

Michael J. Sandel (sinh 1953) là giáo sư ngành triết học chính trị tại Đại học Harvard, nổi tiếng với môn Công lý vì thu hút số sinh viên kỷ lục, hơn 10.000 người học trong hai thập niên, 1.115 sinh viên chỉ riêng trong học kỳ hai năm 2007. Là thành viên trong ủy ban đạo đức sinh học của tổng thống Bush, Giáo sư Sandel cũng thường xuất hiện trên truyền thông về các vấn đề đạo đức, mà theo ông cũng chính là chính trị.

Mở đầu khóa học, Giáo sư Sandel đặt ra hai tình huống.

Trong tình huống thứ nhất, chiếc xe điện đang phóng nhưng bị hỏng phanh. Người lái xe phải có hai lựa chọn: tiếp tục đi thẳng và sẽ đâm chết 5 người trên đường ray, rẽ trái và sẽ đâm chết 1 người. Nếu là người lái xe, bạn sẽ đi thẳng hay rẽ ?

Ở tình huống thứ hai, bạn không phải người lái xe mà là một người quan sát đứng trên cầu. Đứng cạnh bạn là một anh béo, và chỉ cần bạn đẩy anh béo xuống mũi xe thì chiếc xe sẽ dừng và cứu được 5 người. Bạn có đẩy không ?

Trong khóa học 12 phần, giáo sư Sandel đưa ra các tình trạng rất khó xử về mặt đạo đức  kiểu như trên và yêu cầu sinh viên trình bày các ý kiến về việc đúng nên làm. Ông hỏi sinh viên để kiểm tra câu trả lời khi xuất hiện những tình huống mới. Kết quả thường khá bất ngờ, và cho thấy các câu hỏi đạo đức quan trọng thường không thể trả lời Đúng hay Sai.

Khóa học bao phủ nhiều vấn đề “nóng” hiện nay: ưu đãi nhóm thiểu số, hôn nhân đồng giới, yêu nước và các quyền công dân, công an có nên đánh tù nhân để lấy thông tin, có nên bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi đi xe ngoài đường …

Cách giảng dạy của Giáo sư mang tính gợi mở cao, đưa những vấn đề Triết học khô khan, những giá trị đạo đức luân lý phức tạp vào ngữ cảnh thực của cuộc sống. Tra tấn có thể biện minh được không ? Một người cha ăn trộm thuốc để cứu sống con mình qua cơn thập tử nhất sinh thì sao ? Có chấp nhận được đôi khi nói dối không ? Mạng sống con người có giá trị bao nhiêu ? Đó là những vấn đề mà hàng ngày chúng ta phải đối mặt.
Mục tiêu của Khóa học là cung cấp những kiến thức cơ bản về Triết học và Đạo đức để người học tự mình có kiến giải riêng trong những hành động hàng ngày. Làm hay không làm ? Làm như thế là Đúng hay Sai.

Nhóm dịch : HĐP (tập 1), Nguyễn Như Cát Tường (tập 2), Sai (tập 3, 12), Dương Bích Thuận (tập 4,6,7, 9), Đặng Hoàn (tập 5,7),  Cát Tường (tập 8), Hoàng Anh (tâp 10), Huyền Trang (tập 11).

Biên tập : HĐP̉


Xem thêm tại trang chủ : http://www.justiceharvard.org/


Tập 1
1.1 – Khía Cạnh Đạo Đức Của Việc Giết Người
Nếu bạn phải lựa chọn giữa (1) giết một người để cứu năm người và (2) không làm gì cả kể cả khi năm người chết ngay trước mặt bạn – bạn sẽ làm gì ? Việc đúng nên làm là gì ? Đây là một tình huống giả định mà Giáo sư Sandel đã sử dụng để mở đầu cho khóa học của ông về lý luận đạo đức. Sau khi đa số sinh viên tán đồng với quan điểm cần giết một người để cứu năm người, giáo sư Sandel đã đưa ra thêm các ví dụ tương ứng để sinh viên phát biểu quan điểm để cuối cùng nhận ra rằng các giả định về nguyên tắc đạo đức đôi khi gây nhầm lẫn, và có nhiều vấn đề đạo đức không thể trả lời bằng Đúng hay Sai.
1.2 – Một Vụ Ăn Thịt Người
Giáo sư Sandel giới thiệu Thuyết vị lợi của Triết học gia Jeremy Bentham với một vụ kiện nổi tiếng trong thế kỷ 19. Vụ kiện này liên quan đến một thảm họa, một chiếc tàu bị chìm, bốn thủy thủ lênh đênh trên bè cứu sinh giữa Đại Tây Dương. Sau 19 ngày lênh đênh giữa biển, thuyền trưởng đã quyết định giết người yếu nhất trong bốn người để ba người kia có thể sống sót nhờ thịt và máu của người kia. Vụ kiện này đã khuấy lên một cuộc tranh luận về Thuyết vị lợi – thuyết có quan điểm “Lợi ích lớn nhất cho Nhiều người nhất”


Tập 2
2.1 - Định Giá Mạng Sống Bằng Tiền
Ngày nay, các công ty và chính phủ thường sử dụng phép tính vị lợi của Jeremy Bentham dưới cái tên “phân tích chi phí – lợi ích”. Giáo sư Sandel trình bày một số nguyên nhân lịch sử khiến người ta sử dụng phân tích chi phí-lợi ích để dùng tiền định giá trị sinh mạng con người. Những nguyên nhân này cũng làm nổi lên một vài phản đối với phép tính vị lợi khi tìm kiếm “lợi ích tốt nhất cho nhiều người nhất.” Liệu chúng ta có nên lúc nào cũng xem trọng sự hạnh phúc của đám đông hơn, ngay cả khi nếu đám đông trở nên độc ác hay ti tiện? Liệu có thể tính tổng và so sánh tất cả các giá trị sử dụng cùng một thước đo thông thường – như tiền bạc?
2.2 – Cân Đong Niềm Vui Bằng Gì
Giáo sư Sandel giới thiệu J.S. Mill, một triết gia thuyết vị lợi cố gắng bảo vệ thuyết vị lợi khỏi những phản đối do những người thủ cựu đưa ra. Mill cho rằng tìm kiếm “lợi ích tốt nhất cho số đông” tương thích với việc bảo vệ quyền lợi cá nhân, và thuyết vị lợi có thể tìm được sự khác biệt giữa niềm vui cao quý và thấp hèn. Quan điểm của Mill là niềm vui cao quý luôn là niềm vui được ưa chuộng hơn bởi số đông có kiến thức. Sandel kiểm tra lý thuyết này bằng cách cho chiếu ba đoạn clip từ ba hình thức giải trí khác nhau: Hamlet của Shakespeare, chương trình thực tế Fear Factor, và The Simpsons. Các sinh viên đã tranh luận trải nghiệm nào đem lại niềm vui cao quý hơn, và Mill có bảo vệ thành công cho thuyết vị lợi.

Tập 3
3.1 – Tự Do Chọn Lựa
Giáo sư Sandel giới thiệu các khái niệm của chủ nghĩa tự do về quyền cá nhân, theo đó chỉ cần tồn tại nhà nước tối thiểu. Chủ nghĩa tự do cho rằng nhà nước không có quyền ban hành những luật sau: (1) Những luật có tính chất áp đặt cho người dân tự bảo vệ bản thân như luật bắt đội mũ bảo hiểm (2) Áp đặt giá trị đạo đức của một số người lên toàn xã hội và (3) Phân phối lại thu nhập giữa người giàu và người nghèo.
Giáo sư Sandel giải thích các quan điểm của chủ nghĩa tự do là việc tái phân phối qua đánh thuế cũng giống như cưỡng bức lao động đối với các trường hợp như Bill Gates hay Micheal Jordan
3.2 – Ai Là Chủ Của Tôi?
Triết gia theo chủ nghĩa tự do Robert Nozick cho rằng việc đánh thuế với những người giàu có – để lấy tiền cho việc cung cấp nhà ở, dịch vụ y tế, giáo dục của người nghèo – là một hình thức áp bức. Đầu tiên các sinh viên tranh luận về việc tái phân phối. Không phải là những người nghèo rất cần các dịch vụ xã hội để có thể tồn tại sao? Nếu bạn sống trong một xã hội có hệ thống tiền thuế thì không phải bạn phải có nghĩa vụ nộp thuế sao? Không phải cũng có những người giàu có chỉ vì vận may và tài sản của gia đình? Có một nhóm sinh viên tình nguyện lập thành ‘đội chủ nghĩa tự do’  đứng ra phản bác lại các ý kiến chống lại chủ nghĩa tự do.
Tập 4
4.1 – Đây Là Đất Của Tôi
Triết gia John Locke tin rằng mỗi người đều có những quyền căn bản mà  không một  chính quyền  nào có thể xâm phạm. Những quyền này – bao gồm quyền sống, quyền tự do và quyền được có sở hữu – cố hữu là của chúng ta trong “trạng thái tự nhiên”, thời kỳ trước khi Nhà nước và luật pháp được thiết lập. Theo ông, những quyền này do luật lệ tự nhiên quy định và được nhận thức bởi lý trí. Con người không được từ bỏ quyền của mình cũng như không thể tước đoạt của người khác. Giáo sư Sandel tổng kết bài giảng bằng việc nêu ra vấn đề: Khi con người thành lập xã hội và thỏa thuận thiết lập một hệ thống pháp luật, những quyền tự nhiên của chúng ta sẽ ra sao?
4.2- Đồng Thuận
Nếu mỗi công dân đều có những quyền bất khả xâm phạm – quyền được sống, được tự do và  được có sở hữu thì sao chính phủ lại có thể thông qua luật thuế như đại đa số đại biểu Quốc hội tán thành? Đó chẳng phải là lấy đi một phần tài sản của con người mà không có sự đồng ý của họ hay sao? Locke lý giải rằng quyết định thiết lập xã hội đồng nghĩa với việc  con người  “ngầm” thỏa thuận chấp nhận tuân thủ luật thuế. Vì thế, việc thu thuế là hợp pháp và nhất quán với quyền tự nhiên, miễn là nó được áp dụng với toàn xã hội chứ không phải tùy tiện đối với bất cứ cá nhân nào.
Tập 5
5.1 – Lính Đánh Thuê
Trong cuộc nội chiến Mỹ, những người bị bắt đi quân dịch có thể thuê người thay thế họ đi chiến đấu. Giáo sư Sandel hỏi liệu các sinh viên có nghĩ chính sách này là công bằng hay không. Nhiều người cho rằng điều này công bằng vì cho phép người giàu tránh việc phụng sự đất nước và mạo hiểm tính mạng mình bằng cách trả tiền cho những người kém lợi thế hơn chiến đấu thay họ. Điều này dẫn lớp học đến một cuộc tranh luận về chiến tranh và vấn đề bắt buộc nhập ngũ. Có thể phản đối quân đội tình nguyện ngày nay với cùng lập luận như vậy không? Nghĩa vụ quân sự có nên để thị trường lao động điều tiết hay bởi lệnh nhập ngũ? Chủ nghĩa yêu nước nên đóng vai trò gì ở đây, và đâu là nghĩa vụ công dân? Liệu có chăng nghĩa vụ của công dân phải phụng sự cho đất nước? Liệu những người theo thuyết vị lợi và những người theo thuyết tự do có thể lý giải cho nghĩa vụ này được không?
5.2 – Thiên Chức Làm Mẹ: Bán Được Không
Trong bài giảng này, Giáo sư Sandel phân tích nguyên lý trao đổi trên thị trường tự do qua tình huống có một cuộc tranh cãi về quyền sinh sản. Giáo sư bắt đầu với một chủ đề hài hước về việc làm ăn của những người hiến tặng trứng và tinh trùng. Sau đó ông mô tả vụ kiện của bé M – một cuộc chiến pháp lý nổi tiếng vào giữa những năm 1980 làm nảy ra câu hỏi gây tranh cãi, “Ai có quyền nuôi đứa con?”. Năm 1985, một phụ nữ tên là Mary Beth Whitehead đã ký hợp đồng với một cặp vợ chồng bang New Jersey, đồng ý mang thai hộ để đổi lấy một khoản tiền thù lao là 10,000$. Tuy nhiên, sau khi sinh con, cô Whitehead đã quyết định giữ lại đứa con, và vụ việc được đưa ra tòa. Sandel và các sinh viên cùng tranh luận về bản chất sự chấp nhận thỏa thuận một cách có hiểu biết, vấn đề đạo đức khi đem bán một sinh mạng và ý nghĩa của quyền làm mẹ.
Tập 6
6.1 – Chú Ý Động Cơ Của Anh Đấy!
Giáo sư Sandel giới thiệu Immanuel Kant, một triết gia khó hiểu nhưng có tầm ảnh hưởng lớn. Kant phản đối chủ nghĩa vị lợi. Theo ông, mỗi chúng ta có những quyền và nghĩa vụ căn bản vượt lên trên cả những lợi ích lớn của cá nhân. Kant phản đối quan niệm đạo đức là sự tính toán kết cục. Khi chúng ta làm điều gì vì trách nhiệm – làm vì đó là việc đúng –  thì chỉ khi đó, hành động của chúng ta mới có giá trị đạo đức. Kant lấy ví dụ ông chủ cửa hàng không tính hụt tiền thừa cho khách chỉ bởi lo lắng nếu bại lộ, việc kinh doanh của mình sẽ sa sút. Theo Kant, hành động của ông chủ quán không hề có giá trị đạo đức bởi ông ta làm đúng việc nhưng sai động cơ.
6.2 – Nguyên Tắc Tối Thượng Của Đạo Đức
Immanuel Kant cho rằng chừng nào hành động của chúng ta có giá trị đạo đức  thì yếu tố làm nên giá trị đó chính là khả năng con người vượt lên lợi ích, sở thích cá nhân mà hành động vì trách nhiệm. Giáo sư Sandel kể một câu chuyện có thật về cậu bé 13 tuổi, quán quân cuộc thi đố chữ sau cuộc thi đã thừa nhận với giám khảo việc mình đánh vần sai từ quyết định thắng thua. Lấy câu chuyện này và một vài ví dụ khác nữa, Sandel giải thích phép thử của Kant xem một hành động có đúng về mặt đạo đức hay không, đó là: Nhận diện nguyên tắc thể hiện trong hành động của bạn, sau đó xem có thể phổ biến nguyên tắc đó thành quy luật để toàn xã hội tuân thủ hay không

Tập 7
7.1 – Bài Học Về Sự Nói Dối
Immanuel Kant cho rằng nói dối, cho dù là lời nói dối vô hại, cũng vẫn là sự xúc phạm nhân phẩm người khác. Giáo sư Sandel đưa ra một tình huống giả định để sinh viên kiểm chứng quan điểm của Kant: Nếu một người bạn trốn trong nhà bạn, và một kẻ có ý định giết anh ta đến trước cửa nhà, hỏi xem người bạn kia đâu, thì nói dối có sai không? Điều này dẫn đến một câu chuyện về một trong những nhân vật nổi tiếng nhất hiện nay đã lảng tránh sự thật ra sao: Tổng thống Clinton nói về vụ bê bối tình dục của ông với Monica Lewinsky.
7.2 – Thỏa Thuận Là Thỏa Thuận
Sandel giới thiệu một triết gia hiện đại, John Rawls, người cho rằng nếu chúng ta phải chọn ra các quy tắc xã hội và không ai trong chúng ta có quyền lực khác biệt thì quy tắc công bằng là quy tắc tất cả mọi người cùng nhất trí.

Tập 8
8.1 – Khởi đầu Công bằng là như thế nào?
Rawls lập luận rằng ngay cả chế độ nhân tài – một hệ thống phân phối tưởng thưởng cho nỗ lực –cũng không đi đủ xa trong việc san phẳng mặt bằng sân chơi bởi vì những người có năng khiếu thiên phú sẽ luôn có được lợi thế. Hơn nữa, Rawls nói, năng khiếu thiên phú cũng không thực sự xứng đáng bởi vì thành công của người có thiên phú thường phụ thuộc vào các yếu tố có tính chất ngẫu nhiên cũng như thứ tự sinh. Giáo sư Sandel chứng tỏ quan điểm Rawls khi ông yêu cầu sinh viên nào là con trưởng hãy giơ tay lên.
8.2 – Chúng ta Xứng đáng với điều gì?
Sandel thảo luận về tính công bằng trong mức lương khác biệt của xã hội hiện đại. Ông so sánh mức lương của cựu Thẩm phán Tòa án tối cao Sandra Day O’Connor (200.000$) với mức lương của Thẩm phán “truyền hình” Judy (25.000.000 $). Sandel hỏi mức chênh lệch này có công bằng không? Theo John Rawls, nó chưa công bằng.
Tập 9
9.1 – Tranh Cãi về Chính Sách Ưu Tiên Nhóm Thiểu Số
Sandel mô tả vụ kiện năm 1996 của Cheryl Hopwood – một cô gái da trắng bị từ chối nhập học vào một trường luật ở Texas, mặc dù cô có điểm cao hơn so với một số thí sinh trúng tuyển thuộc nhóm dân tộc thiểu số. Hopwood đưa vụ việc ra tòa án, lập luận rằng chương trình ưu tiên nhóm thiểu số của nhà trường vi phạm quyền của mình. Sinh viên trong giảng đường thảo luận ưu và nhược điểm của chính sách ưu tiên này. Chúng ta có nên cố gắng sửa chữa, khắc phục sự bất bình đẳng trong nền tảng giáo dục bằng cách xem xét chính sách thi cử? Chúng ta có nên bù đắp những bất công lịch sử, chẳng hạn như chế độ nô lệ và phân biệt chủng tộc? Liệu lý lẽ thúc đẩy tính đa dạng có hợp lệ không? Chúng có thể kết hợp để chống lại lập luận rằng chỉ nên xem xét những nỗ lực và thành tựu của sinh viên chứ không phải các yếu tố ngẫu nhiên nằm ngoài tầm kiểm soát của sinh viên? Khi nào sứ mệnh của một trường đại học là để tăng sự đa dạng, hay như thế vi phạm quyền từ chối một người da trắng trúng tuyển?
9.2 – Mục Đích Là Gì
Sandel giới thiệu về lý thuyết công lý của Aristotle. Aristotle bất đồng với Rawls và Kant. Ông tin rằng công lý là cho người dân những gì họ xứng đáng. Khi xem xét vấn đề phân phối, Aristotle lập luận người ta phải xem xét mục tiêu, mục đích của thứ đang được phân phối. Ví dụ cây sáo tốt nhất nên được đưa cho người thổi sáo hay nhất. Và các chức vụ cao nhất trong hệ thống chính trị nên được phân cho những người có phẩm hạnh công dân lớn nhất. Đối với Aristotle, công lý là vấn đề chọn cho mọi người vai trò phù hợp với đức tính của họ.
Tập 10
10.1 – Công Dân Tốt
Aristotle tin rằng mục đích chính trị là để thúc đẩy và vun trồng phẩm chất công dân. Telos hoặc mục tiêu của nhà nước và cộng đồng chính trị là “lối sống tốt”. Và những công dân cống hiến nhiều nhất cho mục tiêu này của cộng đồng là những người cần được tưởng thưởng nhất. Nhưng làm thế nào để chúng ta biết mục đích của một cộng đồng hoặc một tập quán? Lý thuyết công lý của Aristotle dẫn đến một cuộc tranh trong giới chơi golf gần đây. Sandel mô tả vụ tay golf tàn tật Casey Martin đã kiện PGA vì từ chối yêu cầu sử dụng chiếc xe đẩy trong giải PGA Tour. Vụ việc dẫn đến một cuộc tranh luận về mục đích của chơi golf, và xét khả năng “đi bộ khi thi đấu” có là điều thiết yếu của trò chơi hay không.
10.2 – Tự Do Và Khuôn Khổ
Làm thế nào để Aristotle giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền cá nhân và tự do lựa chọn? Nếu vị trí xã hội của chúng ta được xác định bởi vai trò phù hợp nhất với chúng ta, như thế hoàn toàn mất đi sự lựa chọn cá nhân chăng? Dù tôi phù hợp nhất để làm một loại công việc, nhưng tôi lại muốn làm việc khác thì sao? Trong bài giảng này, Sandel chỉ ra một sự phản đối rõ ràng nhất quan điểm của Aristotle về tự do: Aristotle bảo vệ chế độ nô lệ vì nô lệ là vai trò xã hội phù hợp với một số người. Sinh viên thảo luận các phản bác khác và cùng tranh luận xem triết lý của ông có hạn chế tự do cá nhân không.
Tập 11
11.1 – Lý Lẽ Của Phe Cộng Đồng
Những người theo chủ nghĩa cộng đồng tranh luận rằng, ngoài nghĩa vụ tự nguyện và phổ quát, chúng ta cũng có nghĩa vụ thành viên, liên đới, và lòng trung thành. Các nghĩa vụ này là không nhất thiết phải dựa trên sự đồng ý. Chúng ta kế thừa quá khứ, bản sắc của mình, từ gia đình, quê hương. Nhưng sẽ ra sao nếu nghĩa vụ của với gia đình hoặc cộng đồng của chúng ta xung đột với các nghĩa vụ phổ quát?
11.2 – Lòng Trung Thành Nằm Đâu ?
Chúng ta yêu quý đồng bào của mình nhiều hơn công dân của các nước khác? Yêu nước là một đức tính hay chỉ là một loại định kiến cần khắc phục? Nếu bản sắc của chúng tôi được xác định bởi các cộng đồng cụ thể chúng ta đang sống, những gì sẽ trở thành quyền phổ quát của con người?
Tập 12
12.1 – Tranh Luận Về Hôn Nhân Đồng Tính
Nếu các nguyên tắc của công lý phụ thuộc vào giá trị đạo đức hay giá trị nội tại của mục đích mà quyền hướng tới, làm thế nào chúng ta phải đối phó với thực tế là mọi người bất đồng với nhau về điều gì là tốt nhất? Sinh viên giải quyết câu hỏi này trong một cuộc tranh luận nóng về việc có nên hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính không. Chúng ta có thể giải quyết vấn đề này mà không thảo luận sự chấp nhận về mặt đạo đức của tình dục đồng giới hoặc mục đích của hôn nhân?
12.2 – Cuộc Sống Tốt Đẹp
Sandel tin rằng chính phủ không thể trung lập trên các vấn đề đạo đức khó khăn, chẳng hạn như hôn nhân đồng tính và phá thai, và hỏi lý do tại sao chúng ta không nên sao nhãng tất cả các vấn đề, bao gồm cả quan ngại kinh tế và dân sự trên khát vọng đạo đức và tinh thần. Trong bài giảng cuối cùng của ông, Giáo sư Michael Sandel mạnh mẽ nêu lên lý lẽ cho một nền chính trị mới vì lợi ích chung. Dấn thân, chứ không phải né tránh, thuyết phục đạo đức với công dân đồng bào của mình có thể là cách tốt nhất để tìm kiếm một xã hội công bằng.


12 tập + đầy đủ Phụ Đề Việt


Tập 7-12 
Nguồn: http://khohd.blogspot.com/2012/05/cong-ly-viec-ung-nen-lam.html

Like this post
supcakes:

2011 IN MUSIC
School of Seven Bells “Windstorm”
St. Vincent “Laughing With a Mouth of Blood”
Mazzy Star “I’ve Been Let Down”
Alexi Murdoch “All My Days”
Dum Dum Girls “Jail La La”
Jamie T “Sticks ‘n’ Stones”
Beyoncé “Get Me Bodied”
Fabolous “You Be Killin’ Em”
PJ Harvey “Written on the Forehead”
Laurie Anderson “O Superman”
Girls “Hellhole Ratrace”
Click the picture to download.
Like this post
theworldsgame:

In the final minutes Manchester City stole away what is arguably the most exciting title race ever from Manchester United, giving City fans something to finally cheer about after 44 years without a title.
Like this post
Like this post

Những Ngôi Chùa và Đền Nổi Tiếng Trên Thế Giới

Hơn một phần tư dân số trên thế giới thuộc về các tôn giáo Đông Phương, trong đó bao gồm Phật giáo, Ấn giáo, Hồi giáo, và Đạo giáo. Họ thờ phượng những vị giáo chủ của họ trong các ngôi chùa, đền thờ, đó là nhng kiến trúc đa dạng từ các tôn giáo khác nhau. Từ những phế tích cổ của Ankor Wat cho đến Wat Rong Khun của hiện đại, có hàng trăm nếu không phải hàng ngàn ngôi đền tuyệt vời trên thế giới. Xin mi tham quan.

Tiger’s Nest Monastery

Taktsang Dzong hoặc Paro Taktsang, cũng gọi là tu viện Taktsang hoặc Tiger’s Nest, là một tu viện Phật giáo của người Tây Tạng nổi bật của tông phái Nyingma (phái mũ đỏ), nằm trên một mỏm núi của thung lũng Paro, xứ Bhutan. Được xây dựng vào năm 1692, xung quanh hang Senge Taktsang Samdup, nơi Guru Padmasambhava được cho là đã thiền định ba tháng trong thế kỷ thứ 8. Padmasambhava được biết là đã đem Phật giáo đến Bhutan và là vị thần thành hoàng của đất nước này.

Tu viện được xây dựng vào năm 1692 và xây dựng lại vào năm 1998 sau khi hỏa hoạn. Bây giờ, tu viện bị hạn chế để thực hành nơi ẩn dật và khách du lịch thông thường thì không được thăm viếng.


Tu viện Taktsang


Tu viện Taktsang

Wat Rong Khun

Wat Rong Khun ở Chiang Rai, Thái Lan không giống bất kỳ một ngôi chùa Phật giáo nàotrên thế giới. Toàn thể màu trắng, cấu trúc trang trí công phu được cẩn vào những tấm kiếng tỏa ánh sáng kỳ diệu, được thực hiện trong một phong cách hiện đại rõ rệt. Ngôi chùa là đứa con tinh thần của nghệ sĩ nổi tiếng Thái Lan Chalermchai Kositpipat.

Trên thực tế, ngôi chùa vẫn còn đang xây dựng. Chalermchai hy vọng sẽ mất khoảng 90 năm nữa để hoàn thành, làm cho nó trở thành một ngôi chùa Phật giáo giống như ngôi nhà thờ Sagrada Familia ở Barcelona, Tây Ban Nha!


Wat Rong Khun, ngôi chùa trắng


Wat Rong Khun, nhìn từ xa


Một góc của mái chùa


Kỹ thuật trang trí mái chùa


Tôn tượng Phật điêu khắc, với các đường viền mạ gương khảm


Tay của địa ngục xin tiền lẻ của bạn

Prambanan

Prambanan là một ngôi đền Hồi giáo ở miền Trung Java, Indonesia. Ngôi đền được xây dựng vào năm 850 CE, và gồm có 8 điện thờ chính và 250 điện thờ nhỏ ở xung quanh.

Hầu hết tất cả các bức tường của ngôi đền được trang trí khắc hình phù điêu tinh tế, thuật lại những câu chuyện hóa thân của Vishnu, cuộc phiêu lưu của Hanuman vua Monkey, các sử thi Ramayana và những truyền thuyết khác.

Mặc dù không phải là ngôi đền lớn nhất ở Indonesia (đền Borobudur lớn nhất - xem dưới đây), Prambanan tạo nên vẻ đẹp và hoàn mỹ.


Điện thờ chính của đền Prambanan


Sáu trong tám ngồi đền thờ chính của đền Prambanan


Đền thờ Prambanan vào ban đêm


Những tượng điêu khắctại Prambanan.

Chùa Shwedagon 

Không ai biết chính xác ngôi chùa Shwedagon Paya ở Myanmar được xây dựng khi nào- theo truyền thuyết kể rằng ngôi chùa đã có 2.500 năm tuổi mặc dù các nhà khảo cổước tính rằng ngôi chùa được xây dựng giữa thế kỷ thứ 6 và thứ 10.

Bây giờ, khi mọi người nói “ngôi chùa vàng”, họ thường có nghĩa là cấu trúc màu vàng. Nhưng khi nói đến chùa Shwedagon, vàng có nghĩa là được dát vàng! Trong thế kỷ 15, một nữ hoàng của dân tộc Môn đã ban tặng khối lượng vàng bằng với trọng lượng sức nặng của mình cho ngôi đền. Truyền thống này vẫn tiếp tục cho đến ngày hôm nay, nơi người hành hương thường tiết kiệm tiền trong nhiều năm để mua những gói lá vàng nhỏ để dát vào các bức tường ngôi đền.

Như thể tất cả những vàng là không đủ, các chóp của ngôi tháp và mái vòm được bao phủ với hơn 5.000 viên kim cương và hồng ngọc 2.000 (có cả một viên kim cương 76 carat ở trên đỉnh!). Và Ngôi chùa này là một trong những di tích thiêng liêng nhất trong Phật giáo: thờ tám xá lợi tóc của Phật.


Shwedagon Pagoda và tháp vàng


Shwedagon Pagoda vào ban đêm

Temple of Heaven

Những đền thờ của Thiên Đường là một ngôi đền đạo Lão nằm ở Bắc Kinh, thủ đô của Trung Quốc. Ngôi đền được xây dựng vào thế kỷ 14 bởi Hoàng đế Minh Thành Tổ của nhà Minh (người cũng được xây dựng Tử Cấm Thành) là đền thờ cá nhân của mình, nơi ông thường đến cầu nguyện cho thu hoạch tốt và để chuộc lỗi cho những tội lỗi của dân tộc.

Kiến trúc của ngôi đền là khá thú vị: mọi thứ trong ngôi đền đều tượng trưng cho trời, là hình tròn trong khi những mặt thấp, mà đại diện cho Đất, đều hình vuông.


Chụp từ xa toà chánh điện dùng để cầu nguyện cho thu hoặct tốt tại chùa Temple of Heaven, Bắc Kinh


Chụp gần toà chánh điện dùng để cầu nguyện cho thu hoặch tốt, Temple of Heaven.


Mái khắc chạm hoa văn của toà chánh điên nơi cầu nguyện cho thu hoặch tốt, Temple of Heaven


Trần nhà of the Imperial Vault, Temple of Heaven. 

Chion-in Temple

Chion-in Temple được xây dựng vào năm 1234 CE để tôn vinh người sáng lập của Jodo (Tịnh) Phật giáo, một tu sĩ tên là Honen, người đã nhịn đói đến chết ngay tại chỗ đó. Tại một thời điểm, toàn thể là 21 tòa nhà nhưng do động đất và hỏa hoạn, những tòa nhà còn sót lại thì xây dựng từ thế kỷ 17.

Du khách đến đền Chion-in đầu tiên phải đi qua chiếc cổng lớn nhất ở Nhật Bản: Cửa San-mon có hai tầng. Cái chuông của chùa cũng là một kỷ lục: nặng 74 tấn và cần đến 17 vị hòa thượng rung chuông trong lễ đón mừng năm mới.

Một tính năng thú vị của ngôi đền Chion-in là sàn của hội trường “biết hát.” Được gọi là sàn uguisu-bari hay Chim sơn ca, tấm ván bằng gỗ được thiết kế để lung lay vì mỗi bước đi nhằm cảnh báo cho các nhà sư là có kẻ xâm nhập!


Cổng chính của chùa Chion-in 


 Chùa Chion-in trong mùa đông 


Mái chùa Chion-in 


Chuông của chùa Chion-in


Cấu trúc sàn nhà Chim Sơn Ca

Borobudur

Trong thế kỷ 19, người Hoà Lan xâm chiếm Indonesia họ đã tìm thấy một cổ đại lớn đổ nát vùi sâu dưới rừng nhiệt đới Java. Những gì họ phát hiện ra là một khu tổng thể Borobudur, một kiến trúc khổng lồ được xây dựng với gần 2.000.000 feet khối (55.000 m³) của đá. Ngôi đền có gần 2700 tấm chạm khắc nổi và 504 bức tượng Phật.

Cho đến ngày hôm nay, không ai biết chắc khi nào và tại sao nó được xây dựng, và cũng không rõ lý do nào mà Borobudur bị bỏ rơi trong nhiều năm. Một số học giả tin rằng Borobudur thực sự là một cuốn sách giáo khoa khổng lồ của Phật giáo, những bức phù điêu kể lại những câu chuyện về cuộc đời của Đức Phật và các giáo lý căn bản của Phật Pháp. Để “đọc”, một khách hành hương phải thực hiện theo cách của mình thông qua chín nền tảng và đi bộ một đoạn đường dài trên 2 dặm.


Toàn cảnh của Borobudur.


Borobudur

  Borobudur


Borobudur


Tầng trên cùng của ngôi đền Borobudur


Bên trong mỗi tháplà tôn tượng Phật


Những hình điêu khắc tại Borobudur. 

Golden Temple

Harmandir Sahib (có nghĩa là nơi cư trú của thần), hoặc chỉ đơn giản là Golden Temple ở Punjab, Ấn Độ là nơi linh thiêng nhất của đạo Sikhism (còn gọi là Tích-khắc giáo.) Đối với người Sik, thì ngôi đền vàng tượng trưng cho tự do vô hạn và độc lập về tinh thần.

Chỗ xây dựng ngôi chùa bắt đầu với một hồ nước nhỏ là nơi yên tĩnh mà ngay cả Đức Phật cũng đến nơi đây để hành thiền. Hàng ngàn năm sau, Guru Nanak, người sáng lập ra đạo Sikhism cũng đã sống và hành thiền gần hồ.

Ngôi đền vàng bắt đầu xây vào những năm 1500, do vị Guru thứ tư của đạo Sikh. Đền thờ chính là tác phẩm điêu khắc trang trí bằng đá cẩm thạch, mạ vàng, và bao gồm trong đá quý.


Ngôi chùa Golden Temple, chụp từ xa 


The Golden Temple 


The Golden Temple vào ban đêm


Image

Vishnu Temple of Srirangam

Đền Srirangam (Sri Ranganathaswamy Temple, tại thành phố Tiruchirapalli, Ấn Độ (hay Trichy), là ngôi đền Hindu lớn nhất hoạt động trong thế giới (Ankor Wat là đền lớn nhất của tất cả, nhưng không còn hoạt động như là một ngôi đền - xem dưới đây).

Ngôi đền này là dành riêng cho thần Vishnu, một trong ba vị thần bảo hộ trong Ấn Độ giáo. Truyền thuyết kể rằng một thời gian dài trước đây, một nhà hiền triết đến đây nghỉ ngơi và đã đặt pho tượng của Vishnu tại đây. Khi ông sẵn sàng để tiếp tục cuộc hành trình của mình, thì ông phát hiện ra rằng bức tượng không thể chuyển được, do đó, một ngôi đền nhỏ được xây dựng tại đây. Trong nhiều thế kỷ kế tiếp, ngôi đền được tu sửa cho lớn hơn như ngôi đền hiện nay.

Toàn diện ngôi đền thì lớn: nó bao gồm diện tích hơn 150 mẫu Anh (63 ha) với bảy bức tường đồng tâm, các ngoài cùng là khoảng 2,5 dặm (4 km) dài! Các bức tường phân ranh giới , với sự bao vây bên trong là nơi thiêng liêng, cấm người không phải Ấn giáo vào.

Ngôi đền thờ của Srirangam thì nổi tiếng với các tháp tượng đài trang trí lối vào bên dưới kim tự tháp đầy màu sắc. Ngôi đền có 21 gopurams tổng số, với một lớn nhất có 15 tầng và gần như là 200 feet (60 m) cao.


Temple of Srirangam, đầy màu sắc của các tượng đài


Tượng đài lớn nhất của Temple of Srirangam.


Những cột đá khắc trong  Srirangam Temple 

Angkor Wat, Angkor Thom and Bayon

Angkor Wat không phải là ngôi đền lớn nhất trong lịch sử nhưng mà laà cảm hứng cho vô số tiểu thuyết và các phim hành động của Hollywood: Ankor Wat.

Angkor Wat được xây vào đầu thế kỷ thứ 12 và ở Campuchia. Ngôi đền nổi tiếng thế giới đầu tiên của đạo Ấn Giáo, thờ thần Vishnu. Trong thế kỷ 14 hoặc 15, Phật giáo tràn khắp châu Á, và ngôi đền trở thành một ngôi đền Phật giáo.

Thế giới phương Tây khám phá Angkor Wat vào thế kỷ 16. Khi vị tu sĩ Bồ Đào Nha viếng thăm ngôi đền đã hùng hồn miêu tả ngôi đền như là “Một sự xây dựng phi thường mà bạn không thể để mô tả nó với một cây bút, đặc biệt vì không có một xây dựng nào khác trong thế giới. Những ngọn tháp và cách trang trí với tất cả các sàng lọc mà thiên tài có thể nhận thức của con người. ” Ngôn từ diễn tả của ông vẫn còn vang ngày hôm nay đúng sự thật.

Khách du lịch tham quan Angkor Wat cũng thường ghé thăm các di tích lân cận của Angkor Thom và Bayon, hai ngôi đền nổi tiếng tại thủ đô cổ của đế chế Khmer.


Angkor Wat. 


Khuôn mặt của Bodhisattva Avalokiteshvara tại Angkor Thom.


Bayon, trong đó mô tả bởi Maurice Glaize, một người bảo quản Angkor của những năm 1940, cho rằng “nhưng là một hỗn tạp của đá, một loại chuyển động hỗn loạn tấn công bầu trời”


Cổng vào Bayon. Một người đàn ông đi xe đạp với rất nhiều trái dừa trên xe đạp


Những khuôn mặt của Bayon.

Xem tiếp:

Dưới đây là một số ngôi đền đẹp tuyệt vời và là những nơi thiêng liêng để đọc thêm

Potala Palace and Jokhang Temple

Cung điện Potala, được xây trên đỉnh của ngọn núi Red Mountain ở Lhasa, Tây Tạng, Trung Quốc được xây bởi hoàng đế đầu tiên của Tây Tạng trong 637 CE. Các cung điện hiện nay được xây dựng lại vào giữa năm 1600 của Dalai Lama thứ năm.

Cung điện gồm hai tòa nhà chính, Potrang Karpo (White Palace) và Portrang Marpo (Red Palace). Đây là tòa nhà của vị thứ mười bốn và hiện tại Dalai Lama cho đến khi ông bị buộc phải chạy trốn sang Ấn Độ khi Trung Quốc xâm chiếm Tây Tạng vào năm 1959. Bây giờ là một bảo tàng của nhà nước Trung Cộng.


Tòa cung điện Potala 


The White Palace.

JJokhan Temple ngôi chùa quan trọng và liêng thiêng ở Tây Tạng và cũng là trung tâm tinh thần của Lhasa . Ngôi chùa được xây vào năm 642 CE và từ đó đặt là nơi thở Đức Phật Thích Ca.

Thành phố Lhasa có ba con đường chính để người hành hương sử dụng đi bộ đến đền Jokhang. Nhiều người đã nhất bộ nhất bái dọc theo các tuyến đường để đạt được tâm nguyện chí thành lên Đức Phật.


Chùa Jokhang Temple. 


Khuôn viên của chùa Jokhang Temple. 


Hai con nai chầu Bánh Xe Pháp Luân và một cái chuông đồng trên mái củachùa  Jokhang Temple. 


Những người hành hương  phủ phục trước chùa Jokhang. 

Varanasi

Thành phố Varanasi ở Ấn Độ không phải là một ngôi đền, nhưng là một thành phố nổi tiếng của đạo Ấn Giáo bên bờ sông Hằng. Tuy nhiên, thành phố Varanasi thường được gọi là “Thành phố của đền thờ,” nơi mà hầu hết các đường đi qua đều có một ngôi đền gần đó. Là một trung tâm hành hương (hàng triệu khách hành hương thăm viếng thành phố Varanasi mỗi năm), thành phố có liên kết tốt với Phật giáo và đạo Jain.


Một buổi bình minh tại bờ sông Hằng thành phố Varanasi. 


Cảnh tín đồ Ấn Giáo tắm dưới sông Hằng để cầu nguyện. 


Những người Ấn Giáo tin tưởg rằng tắm dưới giòng sông Hằng thì sạch hết tội lội.
I


Trên đây chỉ là một sự sưu tầm sơ khởi, trong tương lai sẽ cập nhập thêm những ngôi chùa cổ xưa và nổi tiếng khác trên thế giới.

không tìm được nguồn

Like this post

Buddha at Ngyen Khag Taktsang Monastery
Like this post

T Magazine: Doug Aitken’s Acid Modernism

The artist’s house sounds as cool as it looks, as seen in our exclusive video.

Like this post

Dịch giả Dương Tường: “Dừng là chết!”

Nếu chừng nào mệt mỏi, vì một sức ì nào đó, ở vào độ tuổi lẽ ra chưa được nghĩ đến chuyện dừng nghỉ, có lẽ bạn nên gặp một người như Dương Tường. Để nghe ông “ngoan cố” nói về cách ông không bao giờ chịu dừng lại, hay nói cách khác, không “chết chịu” – như tên một bản dịch của ông. Chừng nào trời còn cho sống.

Dịch giả Dương Tường. Dịch giả Dương Tường.     Ảnh: Nguyễn Đình Toán.

Bằng chứng là ở tuổi 80, ông vừa hoàn thành một bản dịch được coi là “khó nhằn” trong kho tàng văn chương nhân loại và ngay sau đó, lại tiếp tục bắt tay dịch cùng lúc hai đỉnh cao văn chương khác.

Dương Tường trở lại, chưa bao giờ với những bản dịch nhỏ xinh mà lúc nào cũng đồ sộ về tầm vóc. Lần này là “Lolita” – một tác phẩm được giới làm sách nước ta bấy lâu “săn lùng ráo riết” và với Dương Tường, nó còn là một “ấp ủ bấy lâu”.

“Lolita” – cái tên quen và lạ với mỗi người yêu văn chương nghệ thuật chúng ta, hẳn không chỉ vì sự nổi tiếng của phim và sách, mà có lẽ, còn vì âm hưởng hết sức trìu mến, thân thương của nó. Dịch giả Cao Việt Dũng nói về cuốn sách: “Lolita, hiện tượng bất thường bậc nhất của văn chương thế kỷ 20, được xuất bản lần đầu vào năm 1955 tại Paris, mặc dù viết bằng tiếng Mỹ. Cũng như mọi tác phẩm kỳ vĩ và có độ lệch chuẩn lớn, như tiểu thuyết của D. H. Lawrence hay của Anthony Burgess, khởi đầu của Lolita không hề suôn sẻ”. Từng bị từ chối, bị hắt hủi, bị chỉ trích, nhưng Lolita cũng chính là tác phẩm đã được dịch và xuất bản tại gần 40 quốc gia, đứng trong Top 100 tác phẩm xuất sắc nhất mọi thời đại, Top 10 tác phẩm gây nhiều tranh cãi nhất và thậm chí từng được tái bản 2 lần trong vòng 4 ngày khi xuất bản tại Mỹ - một kỷ lục đáng kinh ngạc với ngành xuất bản ở bất kỳ thời nào…

Lại một đỉnh cao văn chương để ông chinh phục! Lần này, hứng thú điều khiển ông thế nào?

- Phải nói “Lolita” là một tác phẩm mà tôi đã mong ước được dịch bấy lâu. Và càng dịch càng say! Bởi Nabokov đích thị là một phù thủy chữ! Chữ của cha đẻ “Lolita” phải nói rất kỳ lạ. Nó không ngừng biến ảo trong những ngón chơi chữ vừa tinh tế thông thái vừa tinh quái bình dân, suốt từ đầu đến cuối cuốn sách, dù “Lolita” không được viết bằng tiếng mẹ đẻ. Hoàn toàn không giống cách của một kẻ sính trò lóa mắt, lối chơi chữ của Nabokov rõ ràng là của một cao nhân, bởi một cái đầu hết sức uyên bác và một vốn văn hóa mênh mông Đông Tây kim cổ. Quả thật, chỉ có thể đi xa và đi trước thời đại của mình khi có được một vốn văn hóa sâu rộng như vậy! Tôi nghĩ, một số hiện tượng văn chương ở ta không đi được tiếp và được xa, phần lớn, hẳn cũng vì sự nhỏ hẹp về phông văn hóa…

Trong nhiều tranh cãi, ở chiều ngược sáng, “Lolita” từng bị coi là một cuốn “dâm thư”. Điều này, theo ông, có giống như thời phong kiến, người ta từng “kết án” Truyện Kiều: “Đàn ông chớ kể Phan Trần - Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều”?

- Tôi nghĩ, nếu ai tìm đọc “Lolita” vì hai chữ “dâm thư” thì sẽ thất vọng vì “Lolita” trái lại, là một cuốn sách hết sức đạo đức. Gắn hai chữ “dâm thư” cho “Lolita” hay “Truyện Kiều” (dù rằng mức độ mỗi thời một khác), tôi nghĩ, đó đều là những suy nghĩ quá sức thô thiển và trần tục.

Một “cuốn sách hết sức đạo đức” – lý do nào khiến ông nghĩ thế về “Lolita”?

- Chưa kể sự quyến rũ của văn chương Nabokov, mà ở đây, chỉ xét riêng trên phương diện đạo đức, “Lolita” đã xứng đáng được coi là một cuốn sách tuyệt vời. Khi nó trình ra một lời thú tội hết sức chân thực, soi rọi vào tất cả mọi ngóc ngách hèn kém nhất của mỗi con người. Cái chân thực đáng tin nhất của một người xưng tội, dù rằng tình yêu đó (của một người đàn ông trung niên với một… bé gái 12 tuổi mà ông gọi là “tiểu nữ thần”), như người ta vẫn gọi là bệnh “ấu dâm”. Không kém quan trọng, là sự tỏa ngời từ một luân lí của nghệ thuật – nó khiến cho tác phẩm được tắm trong cái mà Nabokov gọi là “ân phước thẩm mĩ”…

Ông nghĩ giữa một đời sống thường nhật mà mỗi cú nhấp chuột đều có thể bắt gặp một tin tức giật gân về những con “yêu râu xanh”, thì cách nào để một cuốn có nội dung như “Lolita” có thể không gây ra những tác động trái chiều?

- Bằng vào những giá trị văn chương của cuốn sách, tôi tin rằng những người yêu văn chương đích thực (và đây hẳn là số nhiều) sẽ tìm đọc “Lolita” vì vẻ đẹp nhân văn của nó chứ không phải bằng một lối nghĩ tầm thường như chúng ta vừa nói đến. Khi mà, không ngoại trừ, toàn bộ câu chuyện “bịa” kia của Nabokov chỉ là cái cớ để ông ấy đưa ra lời xưng tội lay động lòng người mạnh mẽ ấy.

Vì sao ông lại có thể đánh giá cao đến thế giá trị của một lời xưng tội?

- Là bởi vì, đó là sự khuyết thiếu vô cùng lớn của nền văn học chúng ta cũng như trong mỗi một người chúng ta hôm nay. Nhiều cuốn hồi ký của ta – vốn được coi là chân thực, tôi thấy, rốt cuộc, chỉ là một cách tự bào chữa, tự “rửa mặt” cho mình. Thành thực khó lắm, nếu như không muốn nói đó là sự dũng cảm nhất của con người!

Nghe nói trước khi dịch Lolita, ông đã từng mất hai năm lao lực cho một bản dịch khó không kém nhưng kết quả là… không in được?

- Ừ, đấy là cuốn “Mort à crédit” (Chết chịu) của Louis-Ferdinand Céline, một cuốn sách thuộc loại khó dịch nhất, thậm chí còn khó hơn cả “Những con đường xứ Flandres”, tới nỗi nhiều người đã từng thử dịch nó mà còn phải chào thua. Khi mà trong đó có rất nhiều từ do tác giả đặt ra, không có trong bất kỳ cuốn từ điển nào. Một cuốn sách hơn 600 trang (nhưng nếu in ra tiếng Việt chắc cũng phải hơn 700 trang), vậy mà để hiểu nó, tôi đã phải tìm đọc tận tới hàng nghìn trang sách liên quan đến nó…

Không in được, vậy mà ông vẫn còn đủ kiên nhẫn với một bản dịch nhiều thách đố và cũng khó tìm đầu ra như “Lolita”? Đôi lúc, ông có thấy mình… “lì lợm” không?

- Đúng là khi bắt tay vào dịch “Lolita”, tôi cũng thấy hơi nơm nớp vì không chắc nhà làm sách có xin được giấy phép xuất bản không. Thế nên, việc “Lolita” được cấp phép xuất bản ở ta phải nói là một dấu hiệu đầy cởi mở của nhà quản lý. Về phần mình, một cuốn sách mất bao công lao tâm khổ tứ mà không đến được tay bạn đọc thì đúng là cũng hơi hẫng thật! Nhưng thôi, việc mình, mình làm. Quan trọng nhất là mình được thỏa mãn với đam mê của một người “leo núi”: đó là chinh phục độ cao.

Có duyên với những bản dịch khó, đã bao giờ ông cảm thấy mình phải đứng trong một “cuộc chiến không cân sức”?

- Có thể nói, đó là một sở thích và theo thời gian, đã trở thành một phương châm làm việc của tôi. Đó là luôn muốn kiễng chân cao hơn mình để với được tới một vật cao hơn. Đã đành, kiễng chân thì có thể mỏi, nhưng cũng nhờ thế mà biết đâu, mình được cao lên!

Đặt một kiệt tác giàu chất thơ như “Lolita” vào tay Dương Tường, vì vậy, thiết tưởng không còn lựa chọn nào chính xác hơn, khi người dịch nó còn đồng thời là một nhà thơ có tiếng về cách tân. Nhiều đoạn dịch có thể nói là “đặc sản” Dương Tường khi ngón nghề của người dịch không chỉ đạt đến độ tài năng (dấu ấn của một người am hiểu ngôn ngữ Anh, Pháp) mà còn tài hoa (dấu ấn của một nhà thơ) – đúng như đánh giá của dịch giả Phạm Anh Tuấn:

“Ôi, Carmen của tôi, Carmen bé bỏng của tôi
Ấy-mấy-là, ấy-mấy-là, những ấy-mấy-là đêm
Nào trăng sao cùng xe cộ, nào quán bar cùng barmen
Và, em iêu, những cuộc đấu long trời lở đất của hai ta
Và giữa thành phố ấy-mấy-là tay khoác tay, ta vui bước
Và cuộc xô xát cuối cùng của đôi ta…”

Ôi sao ông lại có thể nhớ ra cái từ “ấy - mấy - là” đúng lúc đến thế! Ông thích bài… “Trống cơm” sao?

- Thật tình, tôi cũng không biết lý giải thế nào. Chỉ đơn giản là lúc ấy, đến đoạn ấy, thì tự dưng mấy chữ đó chợt vang lên trong đầu. Dịch, như người ta vẫn nói, là tái tạo và đồng sáng tạo…

Một điều “kinh khủng” hơn nữa đó là… gần 500 chú thích nằm dày đặc trong suốt hơn ba trăm trang sách. Trong khi, theo dịch giả Phạm Anh Tuấn: Bản dịch tiếng Pháp của NXB lừng danh Gallimard của Pháp (in năm 2000, sinh thời được Nabokov coi là bản dịch tiếng Pháp “Lolita” đạt nhất) tuyệt nhiên không có bất kỳ một chú thích nào. Bản tiếng Pháp ấn hành năm 2005 được đánh giá cao hơn cũng chỉ có chừng dăm chục chú thích… Ông lo lắng cho bạn đọc lắm sao, khi tỉ mẩn và cặm cụi đến vậy?

- Chỉ là, tôi suy từ mình ra thôi. Bởi có những đoạn, mình đọc đến đấy còn thấy vấp nữa là độc giả bình thường. Vậy nếu như mình không bỏ công ra san lấp bằng được những cái ổ gà đấy thì mức độ thưởng thức và sự hứng thú của bạn đọc sẽ bị giảm đi rất nhiều. Lỗi đó thuộc về ai nếu không phải là người dịch? Chính vậy mà công sức tôi bỏ ra cho gần 500 cái chú thích kia có thể nói là ngang ngửa công sức tôi bỏ ra cho văn bản chính.

Miệt mài bên những trang sách, tới giờ này, ông có thấy tự hào vì mình đã sống được bằng nghề?

- Nếu nghĩ như vậy thì sẽ chẳng có trang sách nào cả. Sẽ không làm được gì hết. Vì thử hỏi, với một mức nhuận bút chỉ tầm hơn 20 triệu (có người nói chừng đó chưa bằng… một năm lương giúp việc), thì sao “lại” được công sức mình bỏ ra ròng rã suốt hai năm trời? Hoặc giả, nếu không có gần 500 cái chú thích ấy, thì số tiền tôi nhận được có thể vẫn vậy. Nhưng còn tình yêu của mình, với từng con chữ, với tác giả, với bạn đọc, và cái nghiệp mình bao năm đeo đuổi? Điều này, tôi nghĩ, chỉ có thể lý giải bằng hai chữ: “văn đức”!

“Rời tay” Lolita, những tưởng Dương Tường nghỉ ngơi, dè đâu ông lại tiếp tục bắt tay vào hai bản dịch mới, cũng đều được coi là món “khó nhằn”: “Tìm lại thời gian đã mất” của nhà văn Pháp Marcel Proust – bộ tiểu thuyết 7 cuốn từng được tạp chí Time bình chọn là một trong số mười cuốn sách vĩ đại nhất mọi thời đại (dịch cùng nhóm dịch giả) và “Cơn bão” – một vở kịch nổi tiếng của nhà viết kịch vĩ đại William Shakespeare.

Ông nhất quyết không chịu dừng sao?

- Dừng làm sao được? Dừng là chết!

* Năm 2008, “Lolita” đã được Nhà sách Tân Việt và NXB VH-TT tổ chức dịch ra tiếng Việt nhưng rốt cuộc đã phải ngừng in, sau khi Nhã Nam lên tiếng khẳng định bản quyền xuất bản cuốn sách tại VN.

http://www.laodong.com.vn/Tin-Tuc/Dich-gia-Duong-Tuong-Dung-la-chet/78872

Like this post
[Flash 9 is required to listen to audio.]

folowing bamboo

- Katunesh

Like this post
Like this post
Like this post
Like this post
Like this post
Like this post