Never on a Sunday

Artist: Connie Francis

[Flash 9 is required to listen to audio.]
January 06 201109·58 pm9 notes

atristan:

Oh you can kiss me on a Monday a Monday a Monday is very very good
Or you can kiss me on a Tuesday a Tuesday a Tuesday in fact I wish you would
Or you can kiss me on a Wednesday a Thursday a Friday and Saturday is best
But never never on a Sunday a Sunday a Sunday ‘cause that’s my day of rest

(via dzunglv)

Thơ Trần Dần đoạt giải Thành tựu trọn đời…

Một trong những tuyển tập hiếm hoi từng được xuất bản của “người cách tân thơ số một VN” vừa được tôn vinh với giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội năm 2008, nhằm ghi nhận những đóng góp đặc biệt của ông với nền thi ca hiện đại.
Hội đồng chung khảo giải thưởng nhận định, giải Thành tựu trọn đời về thơ được truy tặng cho Trần Dần (1926-1997) “để khẳng định tính độc đáo và mới mẻ của những tác phẩm lần đầu được chính thức công bố, tính cập thời và bền vững của các tác phẩm, tính tiên phong mở đường trong đổi mới thơ, có ảnh hưởng lớn đến nhiều thế hệ cách tân thơ đương đại… Với tập Thơ Trần Dần, lần đầu tiên nhà thơ cách tân và cách tân có hiệu quả Trần Dần đã đến với độc giả một cách dày dặn, có hệ thống. Nhà thơ đã hiện lên như một chân dung mới mẻ, tài hoa, suốt đời trăn trở tìm tòi đổi mới cho thơ, tạo được hiệu quả thẩm mỹ. Một tính cách thơ vạm vỡ, gây ấn tượng mạnh và nhiều sức thuyết phục trong quyết tâm cách tân”.

 
Tuyển tập “Thơ” của Trần Dần.


Sách dày hơn 500 trang, tập hợp những tác phẩm tiêu biểu trong gần nửa thế kỷ âm thầm sáng tác của Trần Dần, do Công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam liên kết với NXB Đà Nẵng ấn hành. Ngoài ba phần chính: Hãy đi mãi, Ngoại luật, Ván thu khôngThơcòn bao gồm những bài viết, nhận định, hồi ức của Hoàng Cầm, Phạm Thị Hoài, Vũ Văn Kha, Dương Tường, Trần Trọng Vũ… về con người, cuộc đời và sự nghiệp của ông. 
Cùng lọt vào chung khảo hạng mục thơ với Trần Dần còn có cố nhà thơ Lê Đạt với tập U75 từ tình, Hoàng Việt Hằng với Vệt trăng và cánh cửa. Với 6 trong tổng số 9 phiếu, Vệt trăng và cánh cửa đoạt giải thưởng thơ. Tác phẩm được đánh giá “là một tập hợp những bài thơ mang tính tự sự, tính phóng sự, về những miền đất đã đi qua, những số phận người đã gặp. Tập thơ làm hiện lên bức chân dung của những người lao động bình thường ở các vùng đất, trong đó có cả những vùng sâu vùng xa mà nhà thơ đã đặt chân đến khi đi làm báo. Nhưng thế sự chỉ là cái cớ để ngay tức khắc nhà thơ hướng vào trong lòng mình, khuấy động và làm thức dậy những trắc ẩn, những tự vấn, những day dứt và cảm thông chân thành. Mảng thơ bộc lộ một nội tâm đơn độc gánh vác nghĩa vụ gia đình và xã hội, sự gồng mình gắng gỏi, sự pha trộn giữa yếu đuối và rắn rỏi vượt lên đã cho thấy một Hoàng Việt Hằng thật chân thực và khỏe khoắn. Thơ chị thuyết phục được người đọc chính là ở khả năng khuấy động cảm xúc và sự thành thực hết mình như vậy”.
Trong khi có hai giải thưởng dành cho thơ thì không một tác phẩm văn xuôi hay lý luận phê bình nào hội đủ số phiếu cần thiết để được tôn vinh. Lọt vào chung khảo ở hạng mục văn xuôi là Thăm thẳm bóng người (Đỗ Chu) và Giã biệt bóng tối (Tạ Duy Anh). Còn ở mảng lý luận phê bình là Văn hóa văn minh, văn hóa chân lý & văn hóa dịch lý (Hoàng Ngọc Hiến) và Thơ Việt Nam, tìm tòi và cách tân (Nguyễn Việt Chiến).
Có 3 tác phẩm tranh giải thưởng dịch thuật: Nửa kia của Hitler (Eric-Emmanuel Schmitt, Pháp, Nguyễn Đình Thành dịch), Kafka bên bờ biển (Haruki Murakami, Nhật Bản, Dương Tường dịch), Những kẻ thiện tâm (Jonathan Littell, Mỹ, Cao Việt Dũng dịch). Đoạt tối đa 9 phiếu của Hội đồng, bản dịch Nửa kia của Hitler của Nguyễn Đình Thành đã chiến thắng. 
Từ giả thiết: Điều gì xảy ra nếu Adolf Hitler, tên độc tài phát xít của thế kỷ 20, trúng tuyển Đại học Mỹ thuật Viên?, Nửa kia của Hitler (nguyên tác La part de l’autre) dựng lên hai chân dung song song và đối lập: Adolf H. và Hitler. Cuộc đời hai con người này bị rẽ đôi bởi quyết định của Đại học Mỹ thuật Viên. Adolf H. trúng tuyển còn Adolf Hitler trượt. Adolf H. trở thành một họa sĩ tài danh, kết bạn cùng những họa sĩ nổi tiếng như Picasso, André Breton… , tận hưởng cuộc đời bình thường với những người tình và kết thúc sự sống bên cạnh những người thân. Còn Adolf Hitler dần dà căm phẫn cuộc đời, khước từ những mối quan hệ nhân bản với con người và trở thành gã độc tài đồng trinh.




 
Cuốn “Nửa kia của Hitler” do Nguyễn Đình Thành dịch.


Hội đồng chung khảo đánh giá: “Dịch giả Nguyễn Đình Thành, với bản dịch tiểu thuyết Nửa kia của Hitler, đã có một đóng góp ở phương diện phát hiện ra tác phẩm hay để giới thiệu với độc giả Việt Nam… Nguyễn Đình Thành đã chứng tỏ sự am hiểu tác phẩm, sự đồng điệu với tác phẩm và chuyển dịch với một ngôn ngữ uyển chuyển và sinh động”. Tuy nhiên, đặt bên cạnh những dịch phẩm dày dặn và công phu như Kafka bên bờ biển và Những kẻ thiện tâm…, việc lựa chọn Nửa kia của Hitler để trao giải cũng được coi là sự khích lệ đối với một dịch giả trẻ và bản dịch đầu tay.
Hội đồng chung khảo giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội gồm Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội, Hồ Anh Thái, Phó chủ tịch Phạm Xuân Nguyên, Bằng Việt (ủy viên Ban Chấp hành), Lê Minh Khuê (chủ tịch Hội đồng Văn xuôi), Đoàn Thị Lam Luyến (chủ tịch Hội đồng Thơ), Nguyễn Thị Minh Thái (chủ tịch Hội đồng Lý luận Phê bình), Đoàn Tử Huyến (chủ tịch Hội đồng Văn học Nước ngoài), nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ và nhà thơ Bùi Việt Mỹ.
Lễ trao giải sẽ diễn ra vào tháng 10.


(Theo evan)

Uống chung một dòng nước

Bộ phim tài liệu truyền hình dài 20 tập do VN, Trung Quốc, Myanmar, Lào, Campuchia và Thái Lan phối hợp sản xuất khởi chiếu đồng loạt tại 6 nước vào đầu tháng 4/2008. Sau khi ra mắt khán giả trong nước, phim phát trên toàn thế giới bằng tiếng Anh.

Bị ấn tượng mạnh bởi những hình ảnh đẹp về Việt Nam, đạo diễn Geng Xiaozhen khá lỏng tay khi để Việt Nam chiếm tới 5 chủ đề trong tổng số 20 tập phim. Chia sẻ ấn tượng này, ông nói: “Đó là hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh với chòm râu dài bạc phơ, là nụ cười chiến thắng của nữ anh hùng Võ Thị Thắng, là sự quả cảm, kiên cường của o du kích nhỏ… Việt Nam với tôi rất gần gũi, thân thiết”. Vị đạo diễn này cũng khẳng định, ông sẽ mang được những hình ảnh đẹp nhất về Việt Nam đến với bạn bè quốc tế.

Thời lượng 50 phút mỗi tập, Uống chung một dòng nước được giới chuyên môn đánh giá là bộ phim tài liệu truyền hình khái quát và hệ thống nhất về dòng Lan Thương - Mê Kông. Từ đây, khán giả thế giới có cơ hội hiểu hơn về nét đẹp truyền thống, văn hóa, tài nguyên, về vùng đất và con người sống dọc hai bên dòng sông.

Tại Việt Nam, phim phát sóng tập đầu tiên vào ngày 28/3, sau đó phát định kỳ vào 22h thứ hai và thứ sáu hằng tuần trên kênh VTV1 Đài truyền hình Việt Nam.

link: http://langthang.xyvn.net/private/2374122770/tumblr_ldol9fT5gE1qz9cb5

December 11 201007·42 am

Ricky Martin - The Best Thing About Me Is You (ft. Joss Stone)

——— quote from “ME” of Kiki

“Without anyone else noticing, he would play certain songs and say certain things that only I could understand. He would scream his love out to me over the airwaves, but the really incredible, powerful, magnificent, and devastating thing about it was that only I knew it… “

KỶ NGUYÊN CÁI TÔI

The Century of the Self

“Đây là lọat phim nói về cách thức mà những nhà cầm quyền vận dụng lý thuyết của Frued để cố gắng kiểm soát những đám đông nguy hiểm trong thời kỳ dân chủ đại chúng” – Adam Curtis
Sigmund Freud – người sáng lập ngành phân tâm học – đã thay đổi nhận thức của con người và điều đó đã có tác động sâu sắc. Ảnh hưởng của ông trong suốt thế kỷ 20 là vô cùng to lớn. Bộ phim tài liệu này miêu tả những tác động của thuyết Freud lên nhận thức về trí tuệ của con người, và cách ngành quan hệ công chúng cũng như các chính trị gia sử dụng nó trong 100 năm qua
Trong số những nhân vật chính thì Freud và cháu trai của ông Edward Bernays là những người đầu tiên sử dụng kỹ thuật tâm lý trong quảng cáo. Ông luôn được coi như vị cha đẻ của ngành công nghiệp “quan hệ công chúng”. Con gái của Freud – Anna Freud, là người đi tiên phong trong lĩnh vực tâm lý trẻ em, cũng được nhắc đến trong phần hai, cùng với Wilhelm Reich, một trong số những người phản đối Freud!
Cùng với những chủ đề chung này, “Kỷ Nguyên Cái Tôi” cũng đưa ra một câu hỏi về căn nguyên và các phương pháp của chủ nghĩa khách hàng, chủ nghĩa dân chủ đại nghị và những hệ quả của nó. Nó cũng chất vấn phương pháp hiện đại mà chúng ta tự nhìn nhận mình, thái độ đối với kiểu cách và bề ngoài.
Giới kinh doanh và giới chính trị sử dụng PR để nghiên cứu và thực hiện những khao khát của chúng ta, để làm cho những sản phẩm hay những bài diễn thuyết của họ ngày càng làm vừa lòng chúng ta. Curtis đã nêu ra một câu hỏi về mục đích và căn nguyên của thực tế này. Quá trình chính trị từng được cho là nhằm gắn kết những trí tuệ có lý trí và có nhận thức của con người lại để thỏa mãn nhu cầu của toàn xã hội, bộ phim tài liệu chỉ ra làm thế nào mà bằng cách dùng chiến thuật phân tâm học, các nhà chính trị dấy lên những sự thôi thúc không có lý trí và hoang sơ, không rõ ràng dựa trên sự tư lợi nhỏ nhoi của lực lượng tiêu dùng. Ông trích dẫn lời thống đốc ngân hàng trên phố Wall “Chúng ta phải đưa nước Mỹ từ văn hóa cần đến văn hóa khao khát. Mọi người phải được rèn luyện để biết khao khát, biết muốn những thứ mới lạ, thậm chí trước khi cái cũ hoàn toàn được tiêu dùng […] khát khao của con người phải che mờ nhu cầu của chính anh ta”
Trong tập 4, nhân vật chính là Philip Goul và Mathew Freud, chắt trai của Sigmund, là một cố vấn PR. Họ có đóng góp cho những nỗ lực suốt những năm 1990 để đưa những Đảng dân chủ ở Mỹ và Đảng Lao động mới ở Anh lên nắm quyền. Adam Curtis khám phá ra một phương pháp tâm lý, giờ đây họ được tiếp cận sâu vào chính trị học. Ông cũng chứng tỏ rằng, kết quả cuối cùng cũng giống như quan điểm của Edward Bernays về chế độ dân chủ trong suốt năm 1939 ở hội nghị thế giới tại New York!


Tập 1 – NHỮNG CỖ MÁY HẠNH PHÚC (The Happiness Machine)

Người dịch : Bùi Vân Anh và Lê Thị Lan Anh
Biên tập : Lemonade và HĐP
Download Phần 1 | Phần 2 | Phần 3 Phần 4 | Phần 5 | Phần 6
Mirror :Phần 1 | Phần 2 | Phần 3 | Phần 4 | Phần 5 | Phần 6


Tập 2 – KỸ NGHỆ TẠO ĐỒNG THUẬN (The Engineering of Consent)

Người dịch : 
Đặng Hồng
Biên tập : Lemonade và HĐP
Download Phần 1 | Phần 2 | Phần 3 | Phần 4 | Phần 5 Phần 6
Mirror :Phần 1 | Phần 2 | Phần 3 | Phần 4 | Phần 5 | Phần 6


Tập 3 – CẢNH SÁT CHUI VÀO ĐẦU BẠN (There is a Policeman in your Head)

Người dịch : 
Trần Đoài
Biên tập : Trần Ngọc Hà và HĐP
Download Phần 1 | Phần 2 | Phần 3 | Phần 4 | Phần 5 | Phần 6
Mirror Phần 1 | Phần 2 | Phần 3 | Phần 4 | Phần 5 | Phần 6


Tập 4 – TÁM NGƯỜI NHÂM NHI LY RƯỢU (Eight People Sipping Wine)

Người dịch : 
Nguyễn Như Cát Tường
Biên tập : Trần Ngọc Hà và HĐP
Download Phần 1 | Phần 2 | Phần 3 | Phần 4 | Phần 5 | Phần 6
Mirror Phần 1 | Phần 2 | Phần 3 | Phần 4 | Phần 5 | Phần 6

Con cóc trong hang…

Mượn hình ảnh con cóc và cái hang, ta chỉ muốn nhớ lại thân phận tù túng và tầm nhìn thiển cận của mỗi người chúng ta như những tù nhân bị trói chặt, mắt chỉ được nhìn về một hướng trong dụ ngôn Hang động nổi tiếng của Platon (Platon và việc thực hiện ý tưởng – SGTT 30.6.2010). Francis Bacon dựa vào ẩn dụ này để bàn tiếp về nguồn gốc thứ hai gây nên những sai lầm của ta: ngẫu tượng Cái hang.

Từ trong hang tối

Bên cạnh việc quá tin vào giác quan như thói quen thuộc bản tính chung của loài người (ngẫu tượng Bộ lạc), ngẫu tượng Cái hang nói lên các đặc điểm và các chiến lược tư duy tiêu biểu của mỗi cá nhân. Chúng sẽ dẫn dắt ta đến chỗ phạm sai lầm do những nguyên nhân chủ quan. “Mỗi người chúng ta đều có một cái hang hay một sào huyệt của riêng mình” và tất nhiên, chỉ có thể nhìn sự vật từ tầm nhìn của… con ếch ngồi đáy giếng. Chính cấu trúc thể xác và tinh thần của ta – chịu ảnh hưởng của nguồn gốc xuất thân, của nền văn hoá, giáo dục và kinh nghiệm bản thân – sẽ “khúc xạ và xuyên tạc ánh sáng tự nhiên”. Tầm nhìn hạn hẹp ấy là bộ lọc cho tất cả những gì ta thấy, nghe, đọc hay trao đổi với người khác… Bacon nêu ra mấy biểu hiện chính yếu:

– Ta thích nhấn mạnh và đề cao quá mức những cách nhìn hay cách nghĩ nào trùng hợp với tri kiến thiển cận của mình. Ta đánh giá những tri thức của cá nhân mình cao hơn tri thức của người khác, từ đó, bám chặt vào những lý thuyết và hệ tư tưởng do chính mình tạo ra hay được mình xác tín. Tuỳ theo cấu tạo tinh thần của mỗi người, hoặc ta ưa tìm tòi và nhấn mạnh những điểm dị biệt trong sự vật hoặc chỉ thích tập trung vào những chỗ giống nhau. Cả hai thái độ thường dẫn đến sự cực đoan trong mọi việc phán đoán và đánh giá.

– Một mặt, ta dễ đánh mất mình trong những chi tiết, thấy cây không thấy rừng. Thái cực ngược lại là thấy rừng không thấy cây. Có người cực kỳ yêu chuộng và sùng bái những gì cổ xưa, truyền thống; có người lại chỉ ham thích cái mới, cái thời thượng. Ít có ai thực sự đạt được một sự cân bằng giữa hai cách tiếp cận khác nhau ấy. Hậu quả là những gì đã có cơ sở vững chắc sở dĩ bị từ khước chỉ vì chúng cũ và không mới: “ta đổ xô đi phát minh cái bánh xe!”. Ngược lại, cái mới thường bị nghi kỵ và phản bác chỉ vì nó… mới và không tương thích với lối nhìn cổ truyền và định kiến đã bám rễ quá sâu. Thật khó đi tìm cho được những gì có giá trị lâu bền, thay vì bám vào những quan niệm nhất thời!

– Chúng ta gắn bó với một ngành nghề, một học thuyết, một tín ngưỡng vì ta quá say mê vị tổ sư, nhà sáng lập và những thành tựu trong quá khứ của nó, cũng như vì ta đã dành gần trọn đời để theo đuổi, chịu bao gian khổ và đã quá quen thuộc với nó. Mang tâm trạng này đi vào các lĩnh vực có tính khái quát cao như triết học hay khoa học, người ta dễ bóp méo sự thật, gò ép thực tại cho phù hợp với sơ đồ tư duy của mình. Bacon nhìn thấy điều ấy đã xảy ra ngay cả với những nhà đại tư tưởng như Aristoteles: triết học tự nhiên của ông chỉ là… con sen cho logic học của ông. Ta nhớ đến nhận định khét tiếng của Hegel, một đại triết gia khác: nếu sự kiện không đúng với lý thuyết, thì đó là… lỗi của sự kiện!

Nếu sự thật hay ánh sáng chỉ có thể có ở bên ngoài cái hang – như cách nhìn của Platon – thì không lạ gì khi còn ở trong hang, ta ắt sẽ xem chúng là những gì vô nghĩa, hoặc nếu có bàn về chúng, ta chỉ bàn về những gì vô nghĩa. Từ mấy thế kỷ trước, cách đặt vấn đề của Bacon vô hình trung đã dự đoán được cao trào phê phán siêu hình học – được gọi là “tư duy hậu – siêu hình học” – từ cuối thế kỷ 19 và trong thế kỷ 20!

Con cóc ngồi đó…

Sự thật là cô dâu không trang điểm!

FRANCIS BACON

Một trở lực khác trên con đường đi tìm chân lý từ cái hang bé nhỏ của mình là quen nhầm tưởng ước mơ của mình là thực tại. Con tôi, món hàng của tôi, thành phố của tôi, đất nước tôi, nền văn hoá của tôi là… nhất! Xu hướng tự mãn đầy huyễn hoặc và đơn giản hoá này không hẳn do lười biếng. Ngay những người chăm chỉ, cần cù nhất cũng rất sợ nhìn vào sự thật, khi nó đe doạ làm sụp đổ ảo tưởng của mình. Yêu ảo tưởng nhưng luẩn quẩn, bất lực là cố tật của… con cóc trong hang: “con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi…”

Nguy hiểm hơn cả, theo Bacon, là quá xem trọng kinh nghiệm bản thân. Một mặt, kinh nghiệm bản thân là quan trọng, vì không có gì thay thế được nó cả. Nhưng mặt khác, nó trở nên nguy hại khi ta dùng nó để tự bịt mắt mình và phê phán tất cả những gì bản thân mình chưa nếm trải. Kinh nghiệm bản thân là con dao hai lưỡi. Nó vừa giúp ta không ngây thơ trở thành nạn nhân của những huyền thoại, nhưng cũng cản trở không cho ta kịp thời nhận ra những chân trời mới, những giải pháp mới. Biết bao những “trò lập dị thời thượng” vốn bị chế nhạo hay khinh miệt lúc ban đầu rút cục đã trở thành những đôi hài bảy dặm mang lại những tiến bộ vượt bực trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

Đi kèm với lợi quyền, kinh nghiệm bản thân hẹp hòi càng nguy hiểm và là lực cản ngoan cố nhất đối với sự tiến bộ. Bởi vì, trong trường hợp đó, dù mang chiếc kính màu hồng hay màu đen, kết quả vẫn là một: lấy thiên kiến chủ quan thay cho sự đánh giá khách quan, thủ tiêu mọi sự phê phán, đối thoại.

“Tư duy phản biện”

Các nhận xét thẳng thắn của Bacon là một bộ phận trong di sản quý báu góp phần hình thành môn học đang rất phổ biến đầu thế kỷ 21: môn tư duy phản biện (critical thinking). Nguyên tắc và mục đích của môn học này đã được Bacon nêu rõ: “Ta không được phép thu hẹp vũ trụ cho vừa vặn với ranh giới của năng lực hình dung của ta, như cách làm quen thuộc trước nay. Trái lại, ta phải mở rộng biên cương của tri thức để đủ sức nắm bắt được chân tướng của vũ trụ”.

BÙI VĂN NAM SƠN - MINH HOẠ: HỒNG NGUYÊN

http://www.sgtt.com.vn/Khoa-giao/133313/Con-coc-trong-hang%E2%80%A6.html

Báo chí Việt Nam “đêm trước đổi mới”

Không có nạn in lậu, không còn trò buôn giấy

Thời trước năm 1975, ở Sài Gòn, có chuyện các báo xin quota giấy, rồi tờ nào dùng không hết quota thì bán lại cho báo khác kiếm lãi. Nhiều tờ báo lại sống tốt nhờ cách “buôn giấy” như vậy hơn là nhờ doanh số bán báo.

Sau ngày thống nhất đất nước, việc ấn loát được Nhà nước thống nhất quản lý thông qua kế hoạch: Mỗi tờ đăng ký rõ số trang, số kỳ, lượng phát hành, từ đó Nhà nước xác định lượng giấy cần thiết cho báo/ tạp chí đó và chuyển chỉ tiêu tương ứng xuống nhà in. Có cả chỉ tiêu về lề (dành bao nhiêu phần trăm giấy cho lề); giấy thừa không được mua đi bán lại. Do vậy, trò “buôn giấy” của các báo khi xưa hết hẳn.

Tuy nhiên, buôn giấy mới hết thì lại nảy sinh nghề buôn giấy cũ. Những người làm “nghề” này thường mua báo, tích cóp lại rồi bán theo ký cho đồng nát kiếm lời. Ví dụ mua một tờ báo mới mất 5 xu, mua 25 tờ (tương đương 1 kg giấy) mất 1 hào 25 xu. Số này đem bán đồng nát, được tới 2 đồng rưỡi, vậy là lãi cũng rất khá.

Thế nên thời đó ở Hà Nội, có nhiều người xếp hàng mua cả đống báo, mang về nhà, vừa có cái đọc, vừa để bán đồng nát kiếm tiền.

Nhìn sang lĩnh vực “hàng xóm” của báo chí là xuất bản, thì đó là thời kỳ sạch bóng sách lậu. Một người làm sách kể lại: “Do quản lý chặt về đầu vào, nên hồi ấy dẫu giấy rẻ như bùn, cũng không ai dám in lậu cả”. Điểm này chắc là mơ ước của giới xuất bản thời nay.

Tàu điện là hình ảnh đặc trưng của Hà Nội thời bao cấp, mặc dù nó đã chạy ở Hà Nội từ đầu thế kỷ 20. (Ảnh tư liệu, nguồn: wikipedia.org)


Nói “không” với tin lá cải

Nói về báo chí thời bao cấp” - GS lịch sử kinh tế Đặng Phong nhớ lại - “Điều để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc nhất là kỹ thuật viết. Những năm đó đã hình thành nên cả một phong cách viết báo với nhiều điểm khác biệt”. (Ông Đặng Phong là Phó TBT tạp chí Thị trường & Giá cả giai đoạn 1983-1995).

Một trong những đặc điểm của báo chí ngày ấy (mà người đọc bây giờ nhìn lại có thể thấy ngạc nhiên) là thói quen sử dụng mẫu câu “dưới ánh sáng của…”. Ông Đặng Phong kể lại một câu chuyện tiếu lâm thời đó: Sếp đến thăm nhà nhân viên, thấy nhà dán rất nhiều văn bản nghị quyết đại hội này, hội nghị kia, phát biểu của đồng chí này, diễn văn của đồng chí kia.

Sếp ngạc nhiên hỏi vì sao, nhân viên trả lời: “Thưa anh, đề phòng mất điện ạ”.

Kể chuyện này để thấy rằng cụm “dưới ánh sáng của…” đã trở thành một mẫu câu kinh điển trong báo chí thời đó.

Diễn viên Phương Thanh (đã mất đầu năm 2009) là ngôi sao màn bạc, gương mặt sáng giá trên các trang báo thời trước đổi mới. (Ảnh tư liệu, nguồn: Thế giới điện ảnh)

Một đặc điểm khác của báo chí trước đổi mới - có thể khá lạ đối với độc giả thời nay - là không đưa tin lá cải, hiểu theo nghĩa những tin tức giật gân, có liên quan tới bạo lực, tình dục hoặc đời tư người nổi tiếng.

Cánh phóng viên văn hóa - văn nghệ thời đó chẳng phải nhọc lòng “săn tin” về đời sống gia đình và cá nhân của các nghệ sĩ như ngày nay. Thi thoảng mới có một tin kiểu như “Ca sĩ Thanh Hoa về thăm trường cũ”, hoặc “Diễn viên Trà Giang với những kỷ niệm về Bác Hồ”, v.v.

Nếu cứ nhìn vào các tin văn hóa trên báo chí bây giờ, các nghệ sĩ hẳn thấy báo chí ngày trước quá “hiền lành”. Không có chuyện bới móc đời tư, không có khái niệm chụp ảnh trộm (paparazzi). Những loại tin mà phóng viên bây giờ gọi đùa là “trộm - nghiện - lừa - cướp - giết - hiếp” lại càng không xuất hiện trên mặt báo thời đó. Các nhà báo quán triệt sâu sắc tinh thần “Nói ‘không’ với tin lá cải”.

Điển hình tốt và điển hình xấu

Báo chí còn thường xuyên xây dựng những tấm gương đạo đức, người tốt việc tốt. Thông qua phản ánh của báo chí, nhiều cơ sở sản xuất, đơn vị anh hùng, điển hình tiên tiến trong lao động thời đó trở thành hình mẫu điển hình của xã hội.

Có thể nhắc tới những hợp tác xã Định Công, Vũ Thắng (nông nghiệp), hợp tác xã Thành Công (thủ công nghiệp), công trường Kẻ Gỗ (thủy lợi), trường Bắc Lý, v.v… Mỗi lĩnh vực đều có một lá cờ, một con chim đầu đàn.

Tất nhiên, thời nào cũng vậy, báo chí đều có chức năng phê bình, phản biện xã hội. Biểu dương cái tốt thì đồng thời cũng phải lên án cái xấu. Những cái xấu, những đối tượng tiêu cực điển hình bị phản ánh hồi đó là lãnh đạo quan liêu, xa hoa lãng phí, xa rời quần chúng; công nhân lười biếng, thiếu tinh thần trách nhiệm, không vươn lên làm chủ tập thể; nông dân đầu óc nặng tư hữu; tư thương (tức phe phẩy) sinh hoạt phè phỡn; bọn phản động trong nước và các thế lực bành trướng, thù địch bên ngoài.

“Viết bậy, tình hình đâu đến nỗi bi đát thế!”. Biếm họa của họa sĩ Nguyễn Nghiêm trên báo Văn Nghệ số ra ngày 4/6/1988 - những năm đầu đổi mới. (Ảnh tư liệu, nguồn: thethaovanhoa.vn)

Tuy vậy, trong cuộc đấu tranh chống cái xấu này, đôi khi cũng xảy ra hiện tượng báo chí “đánh quá đà” do tả khuynh, quá khích. Năm 1983, tại Hà Nội, Thanh Hóa, Nghệ An và một số tỉnh, có chiến dịch Z.30 khám xét và tịch thu những ngôi nhà hai tầng trở lên bị hàng xóm tố cáo là khá giả, có dấu hiệu làm ăn bất chính. Ngay lập tức, một loạt bài báo của một số ký giả hùa vào bới móc, “đánh hội đồng”, không cần biết thực chất ra sao.

Chẳng hạn, bài Những kẻ có tài sản bất minh của tác giả Quang Cát (Hà Nội Mới, số ra ngày 14/5/1983) viết:

Gần 8h sáng, chủ nhân vẫn chưa dậy, trong khi ngày làm việc của thành phố đã bắt đầu… Đoàn kiểm tra đến khám xét, hắn đã dậy và ra mở cửa phòng ngoài. Đây là loại cửa gỗ lát dày, có đánh xi bóng nhoáng, phía trên gắn kính mờ hoa dâu… Phòng khách lộng lẫy, có salon, máy quay đĩa…

Trong khi Hà Nội ta có bao nhiêu gia đình ở chật chội, mỗi đầu người chỉ có 1m2, thì nhiều tên làm ăn bất chính lại xây nhà, mua nhà sống xa hoa như vậy”. (*)

Các nhân vật bị coi là “tiêu cực”, “phản diện” thường bị báo chí gọi bằng ngôi “y”, “hắn”, “thị”, “mụ”, “bọn chúng”.

Một số nhà phê bình ngày nay cho rằng cách gọi đó có phần thiếu văn hóa, thiếu tính khách quan cần thiết của báo chí, tuy nhiên, đây cũng là điều bình thường trong một xã hội chưa cởi mở. Bạn đọc có thể thấy các ngôi nhân xưng cực đoan này đã không còn thật thông dụng trong khoảng thời gian chục năm trở lại đây.

Đóng góp to lớn vào đường đến đổi mới

Sau ngày thống nhất, báo chí hai miền hòa chung vào một tiếng nói xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Những nhà báo ở Sài Gòn cũ, còn trụ lại được với nghề, thì tập trung “đầu quân” cho Tin Sáng - tờ nhật báo duy nhất còn tiếp tục hoạt động dưới chế độ mới. Trong số này, có những cây viết rất nổi tiếng như: Ngô Công Đức (chủ nhiệm), Hồ Ngọc Nhuận (chủ bút), Lý Quý Chung tức Chánh Trinh, Dương Văn Ba…

Năm 1981 khi Tin Sáng ngừng hoạt động, dàn quân thiện chiến của báo tỏa về Tuổi Trẻ và Sài Gòn Giải Phóng, và có những đóng góp to lớn trong quá trình xây dựng và phát triển của hai tờ báo này.

Nhà báo lão thành Thái Duy, năm 2006. (Ảnh: Nhật Linh - Tuổi Trẻ)

Một nhà báo từng cầm bút qua cả hai chế độ, kể lại: “Trước năm 1975, làng báo Sài Gòn khá đông đúc, có lúc lên tới hơn 40 tờ báo ngày. Những năm đầu sau 1975, báo ngày ở Sài Gòn chỉ còn 2 tờ Tin Sáng và Sài gòn Giải phóng. Tờ Tuổi Trẻ, cho đến năm 1981 khi tôi về làm việc, vẫn còn là tuần báo”.

Ở cả hai miền, báo chí đã có những bài viết với tác dụng đánh động, mở đường, góp phần cực kỳ quan trọng trên con đường đi tới sự nghiệp đổi mới.

Chẳng hạn, khoảng năm 1979-1980, báo Nhân Dân đã tổ chức chiến dịch cử phóng viên xuống địa bàn viết bài “tìm hiểu các giải pháp nâng cao mức sống của nông dân” mà thực chất là điều tra nông thôn Việt Nam và phản ánh kịp thời thực trạng báo động tới lãnh đạo và nhân dân cả nước.

Chính các bài viết sâu sắc, dũng cảm và khéo léo của các nhà báo như Hữu Thọ, Thái Duy… thời gian đó đã góp phần đưa tới sự nhất trí của Trung ương đối với cơ chế khoán trong nông nghiệp (Chỉ thị 100/CT ra đời tháng 1/1981).

Ở phía Nam, báo chí cũng đã bày tỏ sự ủng hộ đối với những cuộc “phá rào” - chống cơ chế trì trệ bảo thủ cũ, mạnh dạn cải cách. Nếu không có sự hưởng ứng của báo chí, những người đi tìm cái mới hẳn đã không thể “tồn tại” được. Đó là các trường hợp “xé rào” của Công ty Lương thực TP HCM, Xí nghiệp Dệt Thành Công, Nhà máy Thuốc lá Vĩnh Hội, v.v… Và những bài báo dưới hình thức “biểu dương các sáng kiến tháo gỡ khó khăn, ách tắc” chính là cách đắc lực để cổ vũ và khuyến khích cái mới.

20 năm sau…

Hai thập kỷ đã qua, báo chí Việt Nam vẫn tiếp tục bám sát những bước tiến của đất nước trong công cuộc đổi mới: Từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, đến thời mở cửa, rồi hội nhập. Theo thời gian và vận hội mới, báo chí ngày càng hiện đại hơn, nội dung và hình thức chuyên nghiệp hơn. Ngôn ngữ viết, phong cách viết cũng đã đổi khác nhiều, kể từ khâu lựa chọn tin tức trở đi.

Nhưng có những giá trị sẽ mãi tồn tại: Đó là những chức năng căn bản của báo chí - cung cấp thông tin, kiến thức, hay bình luận, phản biện chính sách xã hội… Thực hiện chính xác và hữu hiệu những chức năng ấy, báo chí sẽ có cơ hội đồng hành cùng đất nước trên con đường tiến tới một xã hội dân chủ, văn minh và tốt đẹp hơn.

(*) Tư liệu lấy từ cuốn “Tư duy kinh tế Việt Nam 1975-1989”, Đặng Phong, NXB Tri thức tái bản năm 2009

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/bao-chi-viet-nam-dem-truoc-doi-moi

Chuyện làm báo ở Sài Gòn trước 1975

Mỗi tháng khoảng một tuần, ông Y. chạy xe máy tới nhà in Quân Đội 2 và ngồi đó cả ngày để kiểm tra, soát lỗi bản bông của mấy tờ tạp chí do tòa soạn ngoài Hà Nội gửi vào in.

Và rất thường xuyên, ông dùng bút khoanh tròn những từ tiếng Anh xen lẫn trong bài, chi chít như xôi đỗ. Từ “golfer” này phải thay bằng “tay gôn”, “gôn thủ” mới là tiếng Việt. Từ “super star” này thay bằng “siêu sao”. Từ “computer” này nữa, sao không viết là “máy vi tính”?

Nhiều nhà báo trẻ bây giờ sính dùng tiếng Anh, tiếng Mỹ trong bài quá, mặc dù nhiều từ có tiếng Việt tương ứng. Có khi lại dùng từ nước ngoài kèm theo tiếng Việt, kiểu như: fan hâm mộ, nắp ca-pô…” - ông Y. nói. “Tôi nhớ báo chí Sài Gòn thời trước 75 không ai viết tiếng Việt theo kiểu “ba rọi” như vậy, mà phóng viên có lỡ viết thì biên tập viên cũng sẽ sửa ngay”.

Chợ Bến Thành trước năm 1975. (Ảnh tư liệu, nguồn: wikipedia.org)


Ông Y. sống cả tuổi trẻ của mình ở Sài Gòn cũ. Ông học ĐH Văn khoa Sài Gòn, ban Anh văn, vừa học vừa đi viết nhật báo rồi chuyển qua làm cho một tạp chí văn nghệ. Còn bây giờ, ông làm biên tập viên “kiêm” sửa morat cho mấy tờ tạp chí tiêu dùng của một tòa soạn ngoài Hà Nội.

Theo ông, ngôn ngữ chỉ là một trong rất nhiều điểm khác biệt giữa báo chí Sài Gòn cũ và báo bây giờ. Nhưng nghề báo thì bao giờ cũng vậy, là niềm vui, là nỗi buồn, là lòng nhiệt tình của tuổi trẻ và cả những giọt nước mắt.

Sinh ngữ thành tử ngữ

T.T.T., một người làm báo thời Sài Gòn cũ, hiện viết báo tiếng Việt ở nước ngoài, từng bày tỏ sự lo lắng về nguy cơ biến mất một thứ tiếng Việt mà người Sài Gòn hồi đó dùng, được thể hiện trên báo chí và văn học. Hiện nay, nhiều từ ngữ đã bị quên lãng hoặc rất hiếm được dùng như: sổ gia đìnhbằng khoán nhàgá nghĩagiáo học v.v.

Đổi lại, kho ngôn ngữ của người miền Nam sau giải phóng được bổ sung thêm rất nhiều “từ vựng”: hộ khẩuđề xuấtquyết sáchbồi dưỡngkiểm thảo… Từ khi mở cửa nền kinh tế và Internet bùng nổ ở Việt Nam, ngôn ngữ hiện đại càng phát triển, từ mới xuất hiện chóng mặt trong mỗi lĩnh vực chuyên môn cũng như ngoài đời sống.

Những người hoài cổ có thể thấy xót xa cho một thứ tiếng Việt trong quá khứ, giờ sắp thành cổ ngữ hoặc tử ngữ. Nhưng suy cho cùng, ngôn ngữ là thế, luôn vận động và thay đổi cùng cuộc sống, cái mới sinh ra thì cái cũ phải mất đi.

Tiếng Việt của báo chí Sài Gòn cũ giờ chỉ còn được dùng ít nhiều trong làng báo chí hải ngoại, đặc biệt bởi thế hệ cao tuổi. Độc giả trẻ ở Việt Nam ngày nay có thể bật cười khi đọc những câu như: “Tờ Nữu Ước Thời Báo loan tin…”.

Thông tín viên và phóng viên

Ngoài văn phong, ngôn từ, báo chí Sài Gòn cũ còn rất nhiều điểm khác thời nay. Chẳng hạn về cách tổ chức. Ngoài các phóng viên chính thức, mỗi tờ nhật báo còn có một lực lượng “thông tín viên” (correspondent).

Những người này cũng là ký giả, nhưng chỉ chuyên săn tin vặt. Hàng ngày, họ đạp xe (sang hơn thì chạy vélo-solex hay mobylette) đi khắp thành phố, lượm lặt những tin nho nhỏ dạng “xe cán chó, chó cắn xe”… để bán cho các báo.

Nick Út - phóng viên ảnh của AP, tác giả của bức hình em bé bị bom napalm (“Napalm Girl”) đoạt giải Pulitzer năm 1973.(Ảnh nguồn: vapa.org.vn)

Cánh phóng viên thì dường như thời nào cũng vậy, viết bài nộp tòa soạn xong là xả hơi, gặp nhau bàn chuyện nghề chuyện đời, rồi tán dóc, nhậu nhẹt.

Ông Y. nhớ lại: “Làm báo giàu thì nhiều tiền, làm báo nghèo thì ít tiền. Nhiều phóng viên của các tờ báo giàu ăn chơi đế vương lắm, nhảy đầm, bài bạc, có người còn hút sách nữa. Nhưng chính vì thế nên thường không có nhà báo giàu mà chỉ có ông chủ bút là giàu thôi”.

Thật ra thời đó chiến tranh nguy hiểm, phóng viên salon cũng nhiều. Vậy nên các tòa soạn mà có được phóng viên trẻ nhiệt tình, chịu khó ra vùng chiến sự để gửi tin bài về thì chủ báo “cưng” lắm.

Bản thân ông Y. cũng hay tới các vùng chiến sự quanh Sài Gòn, thậm chí đến tận miền Trung, nơi được xem là chiến tranh ác liệt nhất như “Nam Ngãi Bình Phú” (Quảng Nam - Quảng Ngãi - Bình Định - Phú Yên), để viết bài phản ánh về cuộc sống khổ cực của nông dân trong thời loạn lạc.

Hồi ấy tôi trẻ, nên nhiệt tình phơi phới, ham đi. Chứ chiến tranh bom đạn, làm phóng viên chiến trường nguy hiểm lắm. Các nhà báo phương Tây mà tôi biết đều được bảo hiểm rất lớn. Phóng viên bản xứ thì không thế”.

Có lẽ đó cũng là một lý do khiến làng báo Sài Gòn cũ không có nhiều phóng viên chiến trường nổi tiếng tầm cỡ thế giới như đồng nghiệp ở AP, UPI, hay Time. Nick Út của AP (nổi tiếng với bức ảnh chụp em bé bị bỏng bom napalm) là một trường hợp hiếm hoi trong lĩnh vực báo ảnh.

Báo Sài Gòn cũ - mỗi tờ mỗi vẻ

Báo chí Sài Gòn cũ có nhiều loại. Có những tờ công khai chống chính quyền Sài Gòn tham nhũng, như Tin Sáng (chủ nhiệm là ông Ngô Công Đức, đã mất năm ngoái tại TP HCM), Điện Tín (cố nhà báo Chánh Trinh tức Lý Quý Chung là cây bút bình luận chính trị sắc sảo của tờ này). Họ châm biếm chính quyền kém cỏi, gọi “Tổng thống Thiệu” là “Tổng thống Thẹo”, “Sáu Thẹo”, hay Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn thời Johnson là “Ông già tủ lạnh”, chẳng biết sợ.

Những năm cuối thập niên 60, đầu thập niên 70, mục “Tin vịt nghe qua rồi bỏ” trên báo Tin Sáng đã có những bài viết trào phúng phê phán chế độ Sài Gòn, rất được độc giả ưa thích.

Ngược lại, có tờ báo chống cộng dữ dội. Và cũng có nhiều tờ trung lập, gọi là thuộc “thành phần thứ ba”, “đường lối thứ ba” - kêu gọi hòa bình, hòa hợp hòa giải chung chung, không ưa gì chế độ miền Nam nhưng cũng không ra mặt chống đối.

Một trong các báo có số bán ra nhiều nhất là Sống của Chu Tử, một tờ khét tiếng chống cộng. Tất nhiên, báo có lượng phát hành cao không nhất thiết là báo hay.

Dĩ nhiên là không thiếu cả những “lá cải” xanh xanh, chuyên đăng tin “xe cán chó”, đâm chém, tình tiền, tù tội… được mệnh danh là báo “4T”. Và không thể không kể tới một thứ “đặc sản” của báo chí hồi đó: Đã báo ngày thì phải có feuilleton (truyện dài nhiều kỳ, đăng trên báo, sau có thể in thành sách).

Feuilleton có thể là truyện tình cảm xã hội, ly kỳ, éo le, đẫm nước mắt, đặc biệt hấp dẫn giới tiểu thương, hoặc là truyện chưởng, kiếm hiệp kỳ tình của Kim Dung. Nhà văn Việt Nam thời đó cũng có những người viết feuilleton chuyên nghiệp, như Dương Hà, Nghiêm Lệ Quân, Tùng Long…

Ông L.T., một cây bút viết feuilleton thể loại dã sử, nhớ lại: “Viết feuilleton thật ra rất khó vì phải hấp dẫn, ăn khách ngay từ đầu, lại phải liên tục, hàng ngày. Có người viết đồng thời 5 feuilleton cho 5 tờ nhật báo khác nhau, đâm ra lẫn lộn, cho một nhân vật chết mấy tháng rồi lại dựng anh ta dậy. Nhà văn Sơn Nam hồi đó cũng viết feuilleton, nhưng lồng nhiều chuyện về phong tục, tập quán Nam Bộ vào, người đọc thích lắm”.

Nhưng cái tên ăn khách nhất hẳn là một gương mặt ngoại quốc: Kim Dung. Ông L.T. bảo, hầu hết các nhật báo ở Sài Gòn đều tranh nhau mua, dịch và đăng tải truyện chưởng Kim Dung. Tờ nào đăng được sớm thì bán chạy lắm. Ví dụ tờ Chính Luận được nhiều người đọc không phải vì có tin tức chính trị - xã hội hay, mà vì mỗi ngày họ đều đăng truyện Kim Dung sớm nhất.

Và những nỗi thất vọng

Ở miền Nam trước năm 1975, hầu như các tỉnh không có báo riêng (báo địa phương). Toàn bộ báo chí tập trung ở Sài Gòn. Dân số trong thành phố ngày đó chưa tới một triệu. Vậy nhưng báo chí thì rất nhiều, và theo ông Y. thì báo “thường do các phe đảng hoặc các đại gia nắm, với mục đích phục vụ cho quyền lợi của đảng mình hoặc cho cá nhân thay vì nhân dân”.

Vì có nhiều đảng phái chính trị tranh giành ảnh hưởng nên báo chí cũng bị cuốn vào cuộc. Có trường hợp báo chí vừa ca ngợi rùm beng một viên tỉnh trưởng người của đảng này hôm trước, thì hôm sau một tờ báo của đảng khác đã khui ra là ông ta tham ô đến cả tiền cứu trợ cho dân nghèo, nếu bị đưa ra tòa theo luật pháp của chính quyền Sài Gòn thì phải lãnh án tử hình. Phóng viên ngớ người cả loạt.

Ông Y. thở dài: “Thấy mà ngán. Rút cục, nhà báo vô tình trở thành công cụ cho các đảng phái và cá nhân mà thôi”.

Đường phố Sài Gòn thập niên 1960. (Ảnh tư liệu, nguồn: wikipedia.org)


Do kinh tế không phát triển, lệ thuộc hoàn toàn vào Mỹ, báo chí Sài Gòn hầu như không chú trọng tới mảng kinh tế hay các chính sách vĩ mô về điều hành kinh tế, chỉ nặng về chính trị, xã hội, văn nghệ, giải trí. Càng về những ngày cuối của chế độ, báo chí càng rệu rã, chia rẽ, không phản ánh hay cổ vũ được cho một lý tưởng chung nào của xã hội.

Tuy nhiên, dù sao nền báo chí miền Nam trước 1975 cũng đã làm được việc ghi lại một giai đoạn trong lịch sử của một nửa đất nước.

Những cây bút sắc sảo năm xưa giờ nhiều người đã mất: Lê Ngộ Châu, Ngô Công Đức, Lý Quý Chung (Chánh Trinh)… Một số chọn con đường ra nước ngoài, làm báo bên đó, đôi ba người vẫn tiếp tục “cuộc chiến chống cộng” mệt mỏi và vô vọng.

Cây viết truyện dã sử hồi nào, ông L.T., vẫn cầm bút, nhưng tuổi già đã làm sức viết của ông yếu đi nhiều. Về phần mình, ông Y. nghỉ viết báo đã lâu. Phần lớn thời gian, ông vui chơi với cây cá cảnh, ngoài công việc biên tập kiếm sống. “Cây cá kiểng làm tôi thư thái hơn”.

Nói rồi ông lặng lẽ cầm cây bút đỏ, đánh dấu những chỗ sai sót trên tập bản bông xếp ngổn ngang trước mặt. Phải làm cho xong trong buổi sáng nay để còn in, ngày kia báo ra rồi.

Chữ tác đánh chữ tộ

 Nếu một từ rất ít dùng nhưng lại na ná về âm thanh và mặt chữ với một từ quen thuộc thường dùng, sẽ dễ xảy ra hiện tượng trông gà hoá quốc, chữ nọ xọ chữ kia. Những sai lầm kiểu này có khi làm mất ghế chứ chẳng đùa!

Sai thanh lộn dấu: Alexandre de Rhodes được kết nạp Đảng

Trong bài nói chuyện tại đại hội lần thứ hai hội Nhà báo Việt Nam ngày 16.4.1959, ở đoạn đề cập tới tầm quan trọng của ngành in, Bác Hồ nói đại ý khi gọi người đánh cá là “ngư dân” người thợ sắp chữ có thể sắp thiếu cái dấu của chữ ư, rồi in thành ra… “ngu dân”. Và chính lời Bác cũng có lúc bị nhà báo nghe lầm: tham gia chống hạn vào đầu xuân 1958, Bác nói với một nhà báo: “Muốn  viết về nghề nông thì phải biết lao động”. Trong bài báo  Hai mẩu chuyện về Bác Hồ, câu này được in hoa đậm thành một tiểu đề: “Muốn biết về nghề nông thì phải biết lao động” (dẫn theo NLB, 2.1996). Nghĩa đã khác hẳn.

Có khi mặt chữ giống nhau, khác chút xíu về dấu huyền và dấu mũ, thế là “Kẻ làm dâm khấn vái Bà Chúa Thai Sanh. Xin mẹ tròn con vuông, chẳng đặng trai thì đặng gái” (báo GN, 24.7.1999). Gái làm dâm lại muốn sinh con? Hoá ra câu đúng là “Kẻ lâm dâm khấn vái”, trời ạ!

Không chút chú ý tới viết hoa hay viết thường, lại lẫn hai dấu thanh huyền và hỏi nên cố đạo Alexandre de Rhodes được… kết nạp Đảng: “Nhìn qua sơ yếu lí lịch của cố đạo Alexandre de Rhodes ta thấy nhiều điều đáng kính nể: người Pháp, gốc Do Thái, sinh 1591, mất 1660, vào Đảng trong năm 1624, 4 tháng thông thạo tiếng Việt…” (GD&TĐ, Từ Yersin… 20.9.1993). Chúng ta biết ngay đây là lỗi morát. Cụm từ “vào Đàng Trong”, trong lúc tập trung vào bàn phím người đánh máy đã lẫn thành “vào Đảng trong…”!

Trên báo TTT, số 21 tháng 5.1994, ở trang 10 có một tít in đậm Uy tín của dòng họ Nêru – Gandi ở Ấn Độ không phải nhất. May mà hôm sau có đính chính lại: Uy tín của dòng họ Nêru – Gandi ở Ấn Độ không phai nhạt. Hú vía, ban biên tập không việc gì!

Dấu phẩy và chữ i: Trong câu “… các nước xã hội chủ nghĩa đó,…” dấu phẩy đặt sau chữ “đó” bị sắp nhầm thành chữ i, khi in ra thành “…các nước xã hội chủ nghĩa đói…” Không biết tiếng nước ngoài lại phải sắp chữ nước ngoài, nên “… có lần bản thảo viết “l’amiral” (đô đốc), thợ sắp chữ nhầm thành “l’animal” (con vật), người sửa bài không phát hiện được, thành to chuyện. Có ai đó đã suy diễn rằng đây là vấn đề chính trị chứ không chỉ là sơ suất! Và người sửa bài đã phải chịu trách nhiệm, bị kỷ luật và thay đổi công tác (theo NB&CL, Quá nhiều lỗi trên báo chí, 1994)

Lầm lẫn những khái niệm quan trọng

Trong bài Xử kín: có thể hay phải làm? (PL TP.HCM, 18.7.2000) có câu: “Cũng như con chiên khi được vị linh mục làm phép rửa tội đều đã tường trình hết mọi lỗi lầm của mình mà toà buộc vị linh mục ấy ra toà làm chứng về việc liên quan đến con chiên của mình thì còn ai dám nói lên sự thật để xin tội với cha?” Sao lại xin tội với cha? Phải là xưng tội với cha chứ.

Trên báo GN số 546 (17.7.2010), tác giả Nguyên Cẩn viết: “Theo GS Phùng Hữu Lan […] hiến pháp mà Thương Ưởng thực hiện ở đời Tần Hiếu Công…” (TTC, 1.10.2010). Nước Tần thời Xuân Thu – Chiến Quốc sao đã có hiến pháp được? Từ đúng là biến pháp – cách gọi tắt của “biến pháp đồ cường” (thay đổi chính sách để mưu sự cường thịnh). Đây là chủ trương nhất quán của Tần Hiếu Công (361 – 338, TCN) do Tả thứ trưởng – chức tướng quốc nước Tần – Thương Ưởng (390 – 338, TCN) vạch ra.

Thơ hay hoá thơ thường

Báo Thủ Đô Hà Nội số 10.10.1959 đăng bài thơ Chín mùa trông đợi của nữ sĩ Ngân Giang, trong đó có khổ thơ: Nhịp tim hoà lẫn nhịp chân đi/ Sóng mắt hoà trong sóng quốc kỳ/ Lắng bước anh hùng trong khúc nhạc/ Nghe hồn thiêng dân tộc dẫn đường về. Sao trong khổ thơ thất ngôn này, câu cuối lại những tám chữ? Chữ nghe dư thừa làm hỏng câu cuối. Hoá ra chữ nghe ấy là “tác phẩm” của người thợ xếp chữ. Có lẽ từ ghép “lắng nghe” quen thuộc làm nên “mạch văn” câu trên có lắng thì câu dưới có nghe.

Hai câu cuối của khổ thứ tư nguyên tác là: Nàng Rosette như kiếp hoa hồng/ Sớm nở tối tàn, thợ sắp chữ nhầm thành: Là bông hồng, nàng như kiếp hoa hồng/Sớm nở tối tàn. Câu thơ thật lung linh hình tượng.

Còn khi in bài thơ: Lên đỉnh Côn Sơn tìm Nguyễn Trãi/ Trên đầu xanh ngắt một bầu không/ Bàn cờ thế sự quân không động/ Mà thấy quanh mình nỗi bão dông, nhà thơ Khương Hữu Dụng đã từng tìm đến tận nhà in để dặn người xếp chữ đừng sắp nhầm chữ “nỗi” thành chữ “nổi”. Ấy thế nhưng trên tờ lịch ngày 3.4.2002 của nhà xuất bản VH lại mắc đúng cái lỗi mà Khương Hữu Dụng đã lo người thợ hiểu nhầm: Mà thấy quanh mình nổi bão dông. Danh ngữ “nỗi bão dông” đã chuyển thành động ngữ “nổi bão dông” (tùm lum!) trong khi “trên đầu xanh ngắt một bầu không” tĩnh lặng và “bàn cờ thế sự quân không động”.

Nhưng có khi làm câu ít hay thành câu rất hay

Có một giai thoại nổi tiếng về chữ tác đánh chữ tộ trong văn chương Pháp: Năm 1601, Fr. de Malherbe (1555 – 1628) xuất thần làm bài thơ điếu 40 câu (10 khổ), chia buồn với một nhà quý tộc có cô con gái chết trẻ. Hai câu cuối của khổ thứ tư nguyên tác là: Et Rosette a vécu ce que vivent les roses/ L’espace d’un matin (Nàng Rosette như kiếp hoa hồng/ Sớm nở tối tàn), thợ sắp chữ nhầm thành: Et, rose, elle a vécu ce que vivent les roses/ L’espace d’un matin (Là bông hồng, nàng như kiếp hoa hồng/ Sớm nở tối tàn). Câu thơ thật lung linh hình tượng.

Khoảng đầu những năm 1960, “nhà thơ Xuân Quỳnh, lúc đó đang học khoá 1 trường Bồi dưỡng những cây bút trẻ của hội Nhà văn ở Quảng Bá, có gửi đến nhà xuất bản Văn Học một bản thảo thơ có tên Trời biếc, nhưng chị đã viết chữ “Trời” thành “Chời”, hai biên tập viên lúc ấy của nhà xuất bản là Yến Lan và Khương Hữu Dụng, đều là người miền Nam, đã đọc “chời” thành “chồi”. Thế là tập thơ trở thành Chồi biếc” (Văn Nghệ Trẻ, 4.7.1999).

Nhưng mấy khi vì lầm mà sai hoá hay!

GS.TS NGUYỄN ĐỨC DÂN
MINH HOẠ: HỒNG NGUYÊN

http://sgtt.vn/Khoa-giao/133582/Chu-tac-danh-chu-to.html

Lưỡi không xương…

“Trăng lặn. Mặt trời mọc…”, cách nói quen thuộc và đầy hình tượng ấy thật ra… không đúng. Mặt trời chẳng từ đâu mọc lên và mặt trăng chẳng lặn đi đâu hết! Những “sai lầm” mang lại sự linh hoạt, hấp dẫn cho ngôn ngữ và văn chương nghệ thuật sẽ không còn vô hại khi đi vào thế giới khoa học.

Hiểu ngôn ngữ như là phương tiện truyền thông, Francis Bacon yêu cầu sự chính xác và gọi những sai lầm ấy là ngẫu tượng cái Chợ. Từ gợi ý của Bacon, thế kỷ 20 còn nhận ra rằng ngôn ngữ không chỉ là phương tiện truyền thông mà còn là không gian hành động xã hội tạo nên sự cảm thông, đoàn kết cũng như gây ra bao thị phi, xung đột và áp bức. Ngôn ngữ ẩn giấu nguy cơ to lớn: khả năng xuyên tạc, lừa dối và thống trị.

Trong gọng kềm ngôn ngữ

Tư duy của chúng ta gắn liền với việc sử dụng ngôn ngữ. Vì thế, hầu như rất khó thoát khỏi những ảo tượng và những chiếc bẫy rập có nguồn gốc sâu xa trong lời ăn tiếng nói hàng ngày. Ngôn ngữ là những quy ước và là một bộ phận cấu thành của văn hoá tư duy. Khi đầy rẫy khiếm khuyết, chúng là các rào cản tinh thần thật khó vượt qua để đi đến chân tướng của sự vật. Ta rất muốn tin rằng chính tư duy của ta là kẻ làm chủ ngôn ngữ. Khổ nỗi, sự thật thường ngược lại.

Việc sử dụng ngôn ngữ bắt nguồn từ lời nói thường ngày, vốn có xu hướng giản lược. Những ngộ nhận nằm ngay trong cấu trúc và nội dung định nghĩa của những ngôn từ. Có thể nói ngôn ngữ là một loại “phần cứng” quy định ranh giới cho “phần mềm” là những tư tưởng của ta. Ta chỉ có thể suy nghĩ những gì ngôn ngữ chúng ta cho phép, và ta khó đi đến những sự phân loại và phân biệt nào không nằm sẵn trong cấu trúc của ngôn ngữ chúng ta.

Theo Bacon, ngôn ngữ dẫn dắt ta đến sai lầm chủ yếu bằng hai con đường:

– Ta đặt tên cho những sự vật không hề có thực, nhưng những tên gọi này lại có ảnh hưởng rất lớn đến tâm tư và cách hành xử của ta. Không chỉ… “Ông Địa”, “Thần Tài” mới mang lại bao niềm vui và nỗi buồn cho những vị… ham đánh đề, mà cả những khái niệm có vẻ rất khoa học cũng đã không ngừng đánh lừa những đầu óc khoa học. Chẳng hạn, hàng thế kỷ, nhiều nhà khoa học tin vào một chất “ether” nào đó như là môi trường vận động của vật chất, trước khi tỉnh ngộ rằng nó chỉ là một sản phẩm hoang đường.

– Mặt khác, ta lại có rất nhiều từ ngữ để đặt tên cho những sự vật có thực, nhưng do sự trừu tượng hoá vụng về hay diễn dịch vội vã từ thực tại, các từ ngữ ấy rất mơ hồ, bất định, không chính xác. Ngẫm nghĩ xem, bạn sẽ dễ dàng phát hiện vô số những từ ngữ thuộc loại ấy. Thêm vào đó, ta thường sử dụng nhiều từ ngữ theo quán tính mà ít khi tiến hành quan sát và phân tích nội dung thực sự của chúng. Chẳng hạn, ta dễ nhận ra một nhà lãnh đạo có tài, nhưng không dễ dàng chút nào để xác định một cách khách quan những phẩm chất lãnh đạo để thực sự hiểu những gì đã tạo nên một nhà lãnh đạo như thế, và xét xem, liệu những phẩm chất, năng lực ấy có thể truyền đạt hay huấn luyện được hay không. Ta cũng dễ dàng cả tin vào những “huyền thoại” chỉ vì chúng được phát biểu hay trình bày một cách hào nhoáng. Xu hướng này bắt nguồn từ ảo tưởng rằng sự vật hay công việc nhất định sẽ mang lại những thành quả tốt đẹp chỉ nhờ chúng được khoác lớp vỏ ngôn ngữ trịnh trọng, khả tín.

Ngẫu tượng cái Chợ dựa trên lòng tin sai lầm rằng những gì mọi người xem là đúng thì cũng tự động là đúng! Giống như ở giữa chợ, ta “mua” những từ ngữ và ý tưởng của người khác, và “bán” cho họ những từ ngữ và ý tưởng của ta. Bao lâu mọi người đều hài lòng thì mọi việc đều ổn thoả. Những quy ước ngôn ngữ có sức mạnh khủng khiếp, mặc dù không phải lúc nào cũng phản ánh đúng thực tại. Chính vì thế, vào buổi bình minh của nền khoa học hiện đại, Francis Bacon là người đầu tiên nhấn mạnh đến yêu cầu phải làm cho ngôn ngữ được trong sạch và chính xác. Theo ý nghĩa đó, ngẫu tượng cái Chợ là một ẩn dụ quan trọng khác trong lịch sử của tư duy phản biện, vì nó minh hoạ sự cần thiết của việc làm cho tư tưởng được trong sáng, điều kiện tiên quyết cho tư duy khoa học.

“Bước ngoặt ngôn ngữ học”

Ngôn ngữ càng có sức biểu cảm bao nhiêu, càng dễ mang tính bạo lực bấy nhiêu… Xin cảnh giác: tiếng Việt đẹp đẽ và thâm thuý của chúng ta cũng là một ngôn ngữ rất giàu tính biểu cảm!

Ngẫu tượng cái Chợ còn gợi ý nhiều khía cạnh hệ trọng khác nữa của ngôn ngữ. Chúng có nguồn gốc xa xưa từ cuộc tranh luận triết học sôi nổi nhất ở thời trung cổ, rồi được đào sâu và phát triển trong triết học hiện đại. Từ chỗ xem tư duy đi trước ngôn ngữ, xem khái niệm (như là sản phẩm của tư duy và là bản chất bền vững của sự vật) đi trước từ ngữ (như cái vỏ quy ước nhất thời của khái niệm), triết học hiện đại hầu như có cách nhìn ngược lại. Chính cách nhìn mới mẻ ấy đã thực sự tạo ra một cuộc cách mạng trong triết học: từ nền triết học lấy ý thức làm trung tâm (với tư duy là hình thức cao cấp nhất) chuyển sang nền triết học lấy ngôn ngữ làm trung tâm. Cuộc cách mạng ấy được gọi là “bước ngoặt ngôn ngữ học” trong triết học đương đại. Ta sẽ còn có dịp đề cập những vấn đề rất phức tạp và thú vị này. Ở đây, tiếp theo mạch suy nghĩ của Bacon, chỉ xin nhấn mạnh thêm hai điểm liên quan đến ngẫu tượng cái Chợ.

“Thơn thớt nói cười”…

Sở Khanh dùng lời đường mật để đưa Kiều vào bẫy. Khi họ Sở cam kết Nàng đà biết đến ta chăng, bể trầm luân lấp cho bằng mới thôi! và hẹn hò giờ giấc cụ thể để dẫn Kiều “trốn thoát”, những lời nói ấy không đơn thuần truyền đạt thông tin mà còn thực hiện một hành động lừa bịp đầy ác ý – Bề ngoài thơn thớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không dao. Triết học hiện đại dành cho hiện tượng này một thuật ngữ chuyên môn: “hành vi ngôn ngữ”. Cam kết, hứa hẹn, tuyên bố, ra lệnh… ngôn ngữ còn là hành vi gây ra hậu quả, chứ đâu phải chỉ là lời nói gió bay! Kể sao hết bao nhiêu tội ác và bao nhiêu nạn nhân của trò chơi ngôn ngữ, của việc đánh tráo và lạm dụng khái niệm. Thêm nữa, ngôn ngữ càng có sức biểu cảm bao nhiêu, càng dễ mang tính bạo lực bấy nhiêu. Ca tụng lên tận mây xanh hoặc vùi dập xuống bùn đen, ngôn ngữ đều phô bày tính bạo lực của nó: gây ảo tưởng và khổ đau cho người khác. Xin cảnh giác: tiếng Việt đẹp đẽ và thâm thuý của chúng ta cũng là một ngôn ngữ rất giàu tính biểu cảm!

BÙI VĂN NAM SƠN

(còn tiếp)

http://sgtt.vn/Khoa-giao/133748/Luoi-khong-xuong%E2%80%A6.html

Đừng tin vào ngẫu tượng!

SGTT.VN - “Tri thức là sức mạnh!”: câu khẩu hiệu dứt khoát như tiếng kèn xung trận của nam tước Francis Bacon (1561 – 1626) đánh dấu bước ngoặt từ thời Trung cổ châu Âu sang thời hiện đại. Tri thức là hoa trái. Nhưng, muốn thu hoạch vụ mùa, trước hết phải vun xới mảnh đất trồng trọt, gạt hết sỏi đá, cỏ gai.

Tượng Bacon trong nguyện đường Trinity College, Cambridge (Anh).

Gần 20 năm trước Luận văn về phương pháp (1637) của René Descartes, 70 năm trước Luận văn về sự hiểu biết của con người(1689) của John Locke, một thế kỷ rưỡi trước Phê phán lý tính thuần tuý (1781) của Immanuel Kant, Bacon đã đặt viên đá đầu tiên cho tư duy khoa học hiện đại với tác phẩm Công cụ mới (Novum Organum – 1620).

Bốn ngẫu tượng bắt tù binh

Tại sao đặt tên là Công cụ mới? Rõ ràng Francis Bacon muốn biên soạn một công trình để đối trọng với bộ Công cụ lừng danh suốt gần hai ngàn năm của Aristoteles. Bacon hoài nghi cả quyền uy tưởng như bất khả xâm phạm của Aristoteles, không còn tin vào logic học và triết học Aristoteles nữa, và muốn đặt một cơ sở mới mẻ cho việc thu hoạch tri thức thực sự vững chắc. Nhớ ơn bậc tiền bối, Immanuel Kant đã trân trọng trích dẫn một câu nói của Francis Bacon làm đề từ cho ấn bản lần thứ hai quyển Phê phán lý tính thuần tuý (1787) bất hủ của mình.

Bacon dành phần thứ nhất của Công cụ mới để làm công việc “dọn sạch mặt bằng”: vạch trần những nguyên nhân tâm lý gây ra lầm lẫn của con người. Những thái độ sai lầm – từ đó nảy sinh những lỗi tư duy – bị ông gọi là những ngẫu tượng (idole). Ngẫu tượng là một hình ảnh bám rễ rất sâu, chiếm lĩnh tinh thần con người, được tôn thờ nhưng lại không có thực chất nào cả và là những rào cản cho nhận thức. Ngẫu tượng là thần tượng giả mạo. Với cách đặt vấn đề như thế, Bacon không chỉ là người mở đầu cho thuyết duy nghiệm mà còn khai sinh môn tâm lý học hiện đại.

Trong “Cách ngôn” thứ 39 thuộc phần đầu của quyển sách, F. Bacon viết: “Có bốn loại ngẫu tượng bắt đầu óc ta làm tù binh…: loại thứ nhất là ngẫu tượng Bộ lạc, loại thứ hai là ngẫu tượng cái Hang, loại thứ ba là ngẫu tượng cái Chợ và loại thứ tư là ngẫu tượng Sân khấu”. Ngẫu tượng Bộ lạc thuộc về bản tính chung của loài người. Ngẫu tượng cái Hang nảy sinh trong đầu óc cá nhân mỗi người. Loại thứ ba (cái Chợ) là những sai lầm liên quan đến ngôn ngữ, và loại thứ tư (Sân khấu) là do sự nguỵ biện và khiếm khuyết về học vấn. Ông dùng hình ảnh “sân khấu” với tấm màn nhung của nó như là một biểu trưng cho bao tấn trò đời. Không phải ngẫu nhiên khi cuối thế kỷ 19, người ta cứ nghĩ ông mới là tác giả đích thực của những vở kịch mang tên Shakespeare!

Ngẫu tượng Bộ lạc

Bacon xem đây là nguồn gốc chủ yếu của những sai lầm bắt nguồn từ… “phần cứng” của con người, tức những gì nằm trong bản tính tự nhiên và cấu trúc sinh học của loài người. Trước hết, những ấn tượng của giác quan cũng như những chiến lược tư duy của ta để xử lý những ấn tượng ấy thường không phản ánh đúng thực tại, mà chỉ phản ánh những thước đo chủ quan của chúng ta. Giống như một tấm gương kém chất lượng phản ánh méo mó thực tại, đầu óc ta trộn lẫn những điều bất cập của bản thân với những gì ta nhận biết được về bên ngoài. Hậu quả thứ nhất: ta thường có thói quen giản lược hoá mọi việc, ưa chuộng những sự phân loại hời hợt. Lý do là vì ta muốn nhận ra trật tự và quy luật ở khắp nơi, ngay cả khi chúng không thực sự tồn tại. Ảo tưởng này về trật tự và tính bền vững ngăn không cho ta nhận ra rằng nhiều sự vật và tình huống thực ra là duy nhất và độc đáo. Do đó, phản ứng của ta cũng hời hợt và bất túc. Khoa học đã phải trả giá nhiều cho căn bệnh này: chẳng hạn, ta cứ muốn đi tìm một cách giải thích đơn giản cho hầu hết mọi hiện tượng vật lý. Thuyết tương đối, cơ học lượng tử, thuyết hỗn độn… mới làm thay đổi lối nhìn này trong thời gian gần đây mà thôi.

Bắt đầu với sự xác tín, sẽ kết thúc ở sự hoài nghi. Bắt đầu với sự hoài nghi, sẽ kết thúc ở sự xác tín.

FRANCIS BACON

Hậu quả thứ hai: một khi đã chấp nhận quan điểm nào đó là đúng – do sở học hữu hạn hay do quan niệm phổ biến của một thời đại, ta chỉ muốn đi tìm những bằng chứng để bảo vệ quan điểm ấy, và sẵn sàng nhắm mắt trước những bằng chứng hay kinh nghiệm ngược lại. Rất nhiều những điều xác tín và cả mê tín trong nhận thức thường ngày của ta sẽ – bằng cách tinh vi hơn – thâm nhập nhận thức khoa học và thế giới quan của ta nữa. Nói khác đi, đầu óc con người ưa thích điều tích cực, ghét điều tiêu cực, hơn là dám nhìn thẳng vào sự thật, bởi luôn quên rằng cái tiêu cực, phủ định cũng hết sức cần thiết trong việc đi tìm sự thật.

Hậu quả nữa là khái quát hoá và trừu tượng hoá một cách vội vàng. Những ấn tượng mạnh hay những kinh nghiệm bản thân dễ dàng trở thành những kết luận chung và tiêu biểu: bị một ai đó lừa gạt hay xâm phạm, ta ác cảm một cách vô thức với tất cả những ai thuộc giới ấy! Quá tin vào những gì mắt thấy tai nghe, ta sẵn sàng phủ nhận sự tồn tại của những gì nằm ngoài phạm vi ấy: chính điều này đã làm chậm lại rất nhiều những phát kiến của khoa học như về vi trùng, các hiện tượng điện từ, hạt nhân v.v. Rõ ràng, việc thiếu dữ liệu thường nghiệm lúc ban đầu chưa nói lên được điều gì về sự tồn tại hay không tồn tại của sự vật.

Tình và lý

“Tình” nói ở đây là xúc cảm chủ quan. Đọc một quyển sách hay học một người thầy có ác cảm hoặc thiện cảm với một vấn đề gì, ấn tượng ấy có thể đeo bám ta suốt đời. Nó cũng là sự yếu đuối của bản thân trước những sự việc hay tình huống gay go, bởi việc đương đầu với chúng đòi hỏi quá nhiều nỗ lực và thử thách. Việc làm ấy có thể đe doạ làm sụp đổ ảo tưởng của ta, buộc ta phải thách thức và xung đột với những quyền uy đã được xác lập. Trong khi đó, thời hiện đại đối diện với nhiều vấn đề chưa từng có, đòi hỏi phải có những cách nhìn nhận và những giải pháp tỉnh táo, phi quy ước.

Bacon sẽ bàn tiếp về ngẫu tượng thứ hai: đừng tiếp tục đào hang cho chính mình!

BÙI VĂN NAM SƠN (http://www.sgtt.com.vn/Khoa-giao/132986/Dung-tin-vao-ngau-tuong.html)