Ca trù
Tháng 4 vừa qua Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch đã hoàn tất bộ hồ sơ đề nghị UNESCO đưa loại hình văn hóa dân gian ca trù của Việt Nam vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp.
Nghệ thuật xưa
Ca trù còn có rất nhiều tên gọi. Tuỳ từng địa phương, từng thời điểm mà hát ca trù còn gọi là hát ả đào, hát cô đầu, hay hát nhà tơ… là một bộ môn nghệ thuật truyền thống của miền Bắc Việt Nam kết hợp hát cùng một số nhạc cụ dân tộc. Ca trù thịnh hành từ thế kỷ 15, từng là một loại ca trong cung đình và được giới quý tộc và học giả yêu thích.Một nhóm biểu diễn ca trù bao gồm một người nữ ca sĩ hát hay còn gọi là “đào nương” sử dụng phách, một nhạc công nam giới (gọi là “kép”) chơi đàn đáy và một người (gọi là “quan viên”, thường là tác giả bài hát) chơi trống chầu.
Một số làn điệu ca trù quen thuộc như “Hồng hồng, tuyết tuyết” (thơ Dương Khuê), “Khen ai khéo vẽ”, “Đêm chia lửa”, “Ông già điên”, “Tỳ bà hành” (thơ Bạch Cư Dị), Hương Sơn phong cảnh (thơ Chu Mạnh Trinh), “Gặp xuân” (thơ Tản Đà), “Tự tình” (thơ Cao Bá Quát),…
Theo nhà nghiên cứu văn hoá Minh Nhương thì Cung phi đệ nhị Nguyễn Thị Hồng là người được nhân dân tôn vinh là “Bà chúa ca trù”, thờ tại đền Đầm Giếng nằm giữa cánh đồng làng Đại Phú, xã Thượng Mỗ, huyện Đan Phượng (Hà Nội).
Theo thần phả và dân gian truyền lại, đời Lê Trung Hưng (thế kỷ 17) ở Thượng Mỗ có người con gái là Nguyễn Thị Hồng, vốn là con nhà gia thế, lại giỏi thơ ca, hay nghề đàn hát, nhất ca trù, một lối hát cung đình thanh tao, quý phái. Bà vừa đẹp người, đẹp nết, giỏi cầm ca nên nổi tiếng khắp vùng, nhân dân ngưỡng mộ.
Tiếng đồn bay đến kinh đô, nhà vua liền du ngoạn và ngự giá ở Thượng Mỗ. Được mắt thấy tai nghe, một cô thôn nữ đẹp như bông sen nở bên hồ, lại có giọng hát hay như chim hót, khẩu khí ứng đối trôi chảy như một trang kiệt nữ, sánh với bậc kỳ tài… nhà vua liền đón về cung và phong làm cung phong làm phi đệ nhị, phụ trách lễ nhạc cung đình, chuyên dạy hát ca trù phục vụ những cuộc đại lễ.
Sống ở nơi đài các, nhưng bà phi luôn nhớ tới quê hương bản quán. Khi lâm bệnh, bà ước nguyện được về nơi quê cha đất tổ, lúc mất được hoà trong cảnh gió nội hương đồng. Cảm kích trước công lao và đức hạnh của bà phi, khi bà mất, nhà vua đã cử hành tang lễ trọng thể và đưa thi hài của bà về cánh đồng làng Thượng Mỗ. Nhân dân thương tiếc lập đền thờ bên Đầm Giếng, gần khu Mả Vương. Lăng mộ, đền thờ còn tồn tại đến ngày nay. Làng Đại Phú còn được gọi là làng “Nhà trò”.
Đền Đầm Giếng xưa là một am nhỏ, phía sau đền có cây bàng cổ thụ xoè tán che mát như một chiếc lọng lớn, xung quanh cây cối um tùm, chim kêu ríu rít. Nay, đền được tôn tạo nhiều lần, nay có đủ nghi môn, tiền tế, đại bái và hậu cung. Phía trong đền có tượng Đức bà sáng mặt, đôn hậu, lịch lãm. Bức hoành phi ghi bốn chữ “Kim chi ngọc diệp” (tức là cành vàng lá ngọc) được khắc treo từ thời Lê Chính Hòa (1702). Nhiều câu đối ngợi ca công đức của bà: “Tiếng hát trong như ánh trăng làm rung vòng xuyến của cung phi/Ân trạch lớn như sóng nước phù cho cây cối của làng Mỗ tươi tốt”.
Hàng năm, cứ đến ngày mồng 3 tháng 2 âm lịch, ngày giỗ của bà phi, nhân dân tổ chức lễ trọng. Bài văn tế “Đệ nhị cung phi hoàng hậu” được lưu trữ cẩn thận cùng với cuốn ngọc phả ghi công đức của bà. Sau phần lễ, đều có hát ca trù. Nhiều giáo phường ca trù nổi tiếng ở Hà Tây, Hà Nội về hát “Hầu Bà chúa của ca trù”.
Hồng hồng, Tuyết tuyết…
Ca trù được bắt nguồn từ dân ca, dân nhạc cộng với một số trò diễn và múa dân gian. Ca trù lúc khởi thủy cũng như trong một thời gian khá dài là một bộ môn nghệ thuật tổng hợp, bao gồm nhạc, thơ, múa và trò diễn. Chính vì vậy độc đáo của ca trù chính là sự phối hợp đa dạng, tinh vi, nhuần chuyễn giữa thi ca và âm nhạc. Một trong những bài ca trù nổi tiếng nhất là ĐÀO HỒNG ĐÀO TUYẾT, Thơ Dương Khuê
Hồng Hồng Tuyết Tuyết
Mới ngày nào còn chửa biết cái chi chi
Mười năm năm thấm thoắt có xa gì
Ngoảnh mặt lại đã đến kì tơ liễuNgã lãng du thời quân thượng thiếu
Quân kim hứa giá ngã thành ông
Cười cười nói nói sượng sùng
Mà bạch phát với hồng nhan chừng ái ngại
Riêng một thú thanh sơn đi lại
Khéo ngây ngây, dại dại với tình
Đàn ai một tiếng Dương tranh.Đào hồng và đào Tuyết là tên của hai đào nương.Có nhiều người cho rằng Dương Khuê thời trẻ thường thưởng thức hát ca trù ở làng Thanh Thần huyện Sơn Lãng -Hà Đông, nơi có nhiều đào nương hát hay.
Theo Nghệ nhân Hoàng Kỷ giải thích: Bài hát nói Đào Hồng Tuyết của Dương Khuê ngoài ý nghĩa là chỉ tên một cô đào người ta muốn nói lên một đào nương từ lọt lòng mẹ như một bông hoa rất trong trắng, trẻ, đẹp. Đào nương được quý trọng từ thuở bé, 3 - 4 tuổi đã học đánh phách. Đứa bé còn thơ dại, chưa biết gì về con đường tình ái. Nhưng 15 năm sau đứa bé đã đến kỳ tơ liễu… Ngã lãng du thời quân thượng thiếu là lời tự sự của ông già là người chơi bời lãng du từ còn nhỏ kia, nay đã già nhưng còn chưa hết chơi bời lãng mạn. Bạch phát tức là tóc trắng, chỉ ra một người đã quá già. Tuy nay gặp lại, nàng đã lớn nhưng ta đã già, vẫn còn quá chênh lệch nên gặp nhau vẫn cười nói sượng sùng. “Thú Thanh Sơn đi lại”, chỉ nơi tập trung nhiều cô đầu thuộc khu vực Hà Đông - Hà Tây ngày nay. Nghệ nhân Phạm Thị Điền còn đọc luôn 2 bài mưỡu, tức 2 bài thâu tóm, miêu tả nội dung ý tưởng của bài hát nói Đào Hồng Tuyết cũng của Dương Khuê để nói rõ hơn nội dung Đào Hồng Tuyết: “Xưa kia Tuyết muốn lấy ông - Ông chê Tuyết bé Tuyết không biết gì - Bây giờ Tuyết đã đến thì - Ông muốn lấy Tuyết Tuyết chê ông già” .
Khẩn cấp bảo vệ!
Ca trù là một trong những loại hình âm nhạc truyền thống của Việt Nam, trải qua những biến cố thăng trầm lịch sử, có lúc tưởng chừng như không thể tồn tại được. Dẫu nay vẫn còn nhưng đã mai một đi nhiều khi các loại hình giải trí khác du nhập vào. Và người ta cũng chỉ chú ý đến nó trong một phạm vi không gian và thời gian hẹp.
Đào nương - những người trình diễn các làn điệu ca trù. Việc đào nương học tập, thực hành cho đến khi trưởng thành đánh dấu bằng lễ mở xiêm y là quá trình khắt khe và lâu dài. Để trở thành một đào nương phải hội được nhiều tiêu chuẩn khắt khe như giọng hát, năng khiếu âm nhạc (thẩm âm, gõ phách), tri thức âm nhạc và văn thơ, lòng đam mê và kiên trì… sự tồn tại của ca trù được quyết định bởi chính các đào nương.
Ca trù có qui chế về sự truyền nghề, cách học đàn học hát, có những phong tục trong sự nhìn nhận đào nương rành nghề, như lễ mở xiêm áo (thầy cho phép mặc áo đào nương để biểu diễn chánh thức lần đầu tiên trong đình làng gọi là Hát cửa đình), có nhũng qui chế về việc chọn đào nương đi hát thi (ngoài tài năng và sắc diện cần phải có đức hạnh tốt). Các cuộc Hát thi và phát giải được tổ chức rành rẽ, các lễ hội được cử hành rất nghiêm chỉnh.
Hiện tại Việt Nam chỉ còn không nhiều nghệ nhân hát ca trù đều đã cao tuổi và trong số đó những người có khả năng truyền dạy ca trù cho các thế hệ kế cận lại càng hiếm hơn. Nếu các nghệ nhân không thể truyền dạy lại cho hậu thế thì ca trù hoàn toàn có thể biến mất. Các đào nương chính là những người chuyền tải và thể hiện những cái hay, cái đẹp, cái độc đáo của ca trù, giúp ca trù tồn tại cho đến ngày nay.
Ca trù được tổ chức chặt chẽ thành phường, giáo phường, do trùm phường và quản giáp cai quản. Nhưng giờ, không gian dành cho biểu diễn ca trù là ở đình làng, cung vua phủ chúa và tư gia đều không còn tồn tại.Công chúng không thể hiểu ca trù và có rất ít, thậm chí không có cơ hội tiếp cận ca trù dẫn tới tình trạng ca trù không còn chỗ đứng trong đời sống xã hội. Hiện nay ca trù chỉ còn duy nhất không gian biểu diễn là ở ca quán, nó đang lạc lõng và xa dần đối với đời sống cộng đồng dân cư.
Địa chỉ cho bạn
Trung tâm Văn hóa Ca trù Thăng Long có chức năng như một nhà hát, là địa chỉ duy nhất trong cả nước tổ chức biểu diễn ca trù theo cách chuyên nghiệp. Đại chỉ của trung tâm tại số 25 phố Tôn Đản, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Trung tâm Văn hóa Ca trù Thăng Long được xây dựng và thành lập nhằm gìn giữ và phát triển nghệ thuật ca.Trung tâm có cơ sở hạ tầng hiện đại được thiết kế và trang bị hệ thống âm thanh, ánh sáng, sân khấu, chỗ ngồi cho khán giả như một nhà hát chuyên nghiệp và phù hợp với nghệ thuật ca trù nhưng vẫn không làm mất đi nét truyền thống Việt Nam. Phòng diễn có sức chứa 100 khách cho mỗi ca diễn. Một ngày trung tâm có đều đặn ba suất diễn vào 15h - 16h30 - 18h.
Ngoài biểu diễn, Trung tâm còn có không gian triển lãm tranh ảnh, hiện vật, giới thiệu về ý nghĩa văn hóa, lịch sử cũng như sự hình thành và phát triển của ca trù bằng nhiều ngôn ngữ, để không chỉ có khách trong nước mà cả du khách quốc tế cũng có thể hiểu về loại hình nghệ thuật độc đáo này.